- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Công M phạm tội Vận chuyển hàng cấm - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Công M ph m tội “Vận chuyển hàng cấm”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố t ng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố t ng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 238/2024/HS-ST Ngày: 19-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Vọng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Huỳnh Thị Thuỳ Dương;
Ông Đặng Minh Lý.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Kiều Diễm - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Tuyết - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 11 năm 2024, t i tr s Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự sơ thẩm th lý số 254/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa v án ra xét xử số 253/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Công M, sinh năm 1997, t i tỉnh Long An; nơi đăng ký thường trú: Ấp F, xã A, huyện B, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C (đã chết) và bà Lê Thị D; có vợ: Võ Thị Mỹ V (chưa đăng ký kết hôn) và có 01 người con, sinh năm 2017; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không. Bị cáo bị t m giữ ngày 25/02/2024, sau đó chuyển sang t m giam cho đến nay, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Công ty TNHH D1, địa chỉ: Số A, U, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: Anh Nguyễn Trọng N, chức v : Giám đốc; là người đ i diện theo pháp luật của Công ty; vắng mặt.
+ Anh Nguyễn Hoàng N1, sinh năm 2000 và chị Đặng Thị Hồng G, sinh năm 1994; cùng cư trú t i: Ấp C, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An; vắng mặt.
+ Chị Trần Thị Hồng L, sinh năm 1989; cư trú t i: Số A, Khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
+ Ngân hàng TMCP T1; địa chỉ: Số E, đường L, phường T, quận H, thành phố Hà Nội; địa chỉ liên l c: Số C, đường H, Phường B, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: Anh Ph m Thiên T - Chuyên viên cao cấp - Phòng tố t ng XLN - Trung tâm xử lý nợ 2 - Khối xử lý và Thu hồi nợ; là người đ i diện theo uỷ quyền (văn bản uỷ quyền ngày 18/11/2024), có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
+ Anh Đinh Quang M1, sinh năm 1987; cư trú t i: Khu phố H, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến t i phiên tòa, nội dung v án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 25/02/2024, Đội Cảnh sát điều tra tội ph m về Kinh tế - Ma tuý phối hợp Đội Cảnh sát giao thông Công an thành phố T tiến hành tuần tra (theo Kế ho ch số 01/KH-KTMT ngày 14/12/2023) trên đường H, đo n qua phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì phát hiện Nguyễn Công M đang điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Ford Ranger, màu đen, biển số 51D-764.32 lưu thông trên đường H có biểu hiện nghi vấn nên tổ tuần tra yêu cầu dừng xe l i để kiểm tra nhưng M không chấp hành mà tiếp t c điều khiển xe ô tô biển số 51D-764.32 bỏ ch y về hướng phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Khi M điều khiển xe ô tô đến đo n đường ĐX005, Tổ D, Khu phố H, phường P thì M để xe ô tô biển số 51D-764.32 va ch m vào tường rào nhà anh Đinh Quang M1, sinh năm 1987, địa chỉ t i Số G, đường Đ, Tổ D, Khu phố H, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Sau đó, M xuống xe và ch y bộ vào khu vực vườn cao su kế bên nhà anh M1 thì bị Tổ tuần tra phối hợp cùng quần chúng nhân dân bắt giữ được M. Quá trình làm việc, M khai nhận đang vận chuyển trên xe ô tô 15.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu các lo i và M không cung cấp được các lo i hóa đơn, chứng từ chứng minh 15.000 bao thuốc lá là hợp pháp nên lực lượng Công an đã tiến hành lập Biên bản bắt người trong trường hợp ph m tội quả tang đối với M về hành vi vận chuyển hàng cấm (thuốc lá điếu nhập lậu) và thu giữ số vật chứng, gồm: 01 xe ô tô nhãn hiệu Ford Ranger, màu đen, biển số 51D-764.32; 15.000 bao thuốc lá điếu, nhập lậu, gồm: 6.000 (sáu nghìn) bao thuốc lá điếu, nhãn hiệu Hero và 9.000 (chín nghìn) bao thuốc lá điếu, nhãn hiệu Jet. Số tiền Việt Nam 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng).
Căn cứ Công văn thẩm định số 60/CV-2024 HHTLVN ngày 29/02/2024 của H3 về việc thẩm định thuốc lá điếu ngo i nhập lậu, xác định:
1. 02 mẫu cây thuốc lá điếu có nhãn hiệu Jet và H do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T cung cấp là thuốc lá điếu nhập lậu.
2. Theo pháp luật hiện hành của Nhà nước, tất cả các lo i thuốc lá điếu sản xuất, lưu thông hợp pháp trên thị trường nước ta (kể cả thuốc lá nhập khẩu) đều có dán tem do Bộ T2 ban hành sử d ng trên từng bao thuốc lá và có in cảnh báo sức khỏe bằng hình ảnh và bằng tiếng Việt Nam trên 02 mặt trước và sau của bao thuốc lá.
3. Nghị định 98/2020/NĐ-CP ngày 26/8/2020 của Chính Phủ về: “Quy định xử ph t vi ph m hành chính trong ho t động thương m i, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng”, t i C, M c 2, Điều 8 đã nêu rõ: “Hành vi sản xuất, buôn bán, vận chuyển, tàng trữ, giao nhận hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu”.
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã xác định được, như sau: Nguyễn Công M là đối tượng không có nghề nghiệp ổn định, để có tiền tiêu xài Minh đăng thông tin tìm kiếm việc làm lên trang m ng xã hội Facebook (trang Page c thể M không nhớ). Sau đó, M được một người nam (hiện chưa xác định rõ nhân thân, lai lịch) kêu M cho số điện tho i để kết b n Zalo trao đổi về công việc. Sau đó, có tài khoản Zalo tên “Tuan” kết b n với tài khoản Zalo của M. Qua trao đổi, M được người nam trên thuê vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu từ địa bàn tỉnh Long An đến tỉnh Bình Dương với tiền công là 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng)/lượt; M đồng ý. Đến khoảng 08 giờ ngày 25/02/2024, đối tượng trên liên hệ với M bằng Zalo tên “Tuan” và kêu M đi đến đường (M không nhớ rõ tên đường) thuộc huyện Đ, tỉnh Long An để nhận xe và thuốc lá vận chuyển đến tỉnh Bình Dương. Khi đến nơi, M nhìn thấy xe ô tô nhãn hiệu Ford Ranger, màu đen, biển số 51D-764.32 có sẵn chìa khóa xe, trên xe có để 15.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu các lo i và số tiền công là 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng). Sau đó, có đối tượng nam sử d ng Z tên “K” gọi và hướng dẫn cho M điều khiển xe ô tô biển số 51D-764.32 đi đến Khu dân cư H, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương để giao thuốc lá. Khi M đi đến đường H, đo n qua phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì bị lực lượng Công an phát hiện, M bỏ ch y đến khu phố H, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì bị bắt giữ.
Đối với xe ô tô nhãn hiệu Ford Ranger, màu đen, số máy P4AT4272719, số khung MNCLMFF80NW187340, quá trình điều tra xác định, xe ô tô trên mang biển số 62C-185.94 do anh Nguyễn Hoàng N1, sinh năm 1992, cư trú t i Ấp C, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An đứng tên trên Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô nhưng xe này đang được thế chấp t i Ngân hàng TMCP T1 (T3), theo Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng cho vay và thế chấp số 252/2023/HDTD/DTA ngày 17/11/2023. Từ ngày 15/12/2023, anh N1 cho Công ty TNHH D1, địa chỉ t i Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, do anh Nguyễn Trọng N, sinh năm 1992, cư trú t i Khu phố F, thị trấn C, tỉnh Long An làm Giám đốc thuê (có hợp đồng) với giá 16.000.000đ (mười sáu triệu đồng)/tháng. Ngày 12/02/2024, nam thanh niên (hiện chưa xác định rõ nhân thân, lai lịch) sử d ng Căn cước công dân (bản photo) số 080094005192, mang tên Ph m Trọng H1, sinh năm 1994, cư trú t i Khu phố E, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An đến gặp anh N để thuê l i xe ô tô nhãn hiệu Ford Ranger, màu đen, số khung MNCLMFF80NW187340, số máy P4AT4272719, biển số 62C-185.94. Quá trình điều tra, xác định số căn cước công dân 080094005192 được cấp cho anh Nguyễn Ngọc H2, sinh năm 1994, cư trú t i xã T, huyện C, tỉnh Long An. Quá trình làm việc, anh H2 khai nhận, anh H2 không thuê xe ô tô biển số 62C-185.94 và anh H2 cũng không biết sự việc trên. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiến hành xác minh t i Khu phố E, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An xác định không có ai tên Ph m Trọng H1 như địa chỉ nêu trên. Đối với hành vi sử d ng Căn cước công dân số 080094005192, mang tên Ph m Trọng H1 có dấu hiệu của tội Sử d ng giấy tờ giả của cơ quan, tổ chức xảy ra t i địa bàn quận B, Thành phố Hồ Chí Minh nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã chuyển nguồn tin đến Cơ quan Cảnh sát điều tra quận B để th lý, xác minh theo thẩm quyền. Xét thấy, xe ô tô nhãn hiệu Ford Ranger, màu đen, số khung MNCLMFF80NW187340, số máy P4AT4272719 là vật chứng của v án nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một đã ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi c c Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một để Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một quyết định xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với biển số 51D-764.32, quá trình điều tra xác định biển số 51D-764.32 là của xe ô tô nhãn hiệu Chevrolet Colorado, màu đỏ, số máy LP2G190361231, số khung MMM148EM0KH652784 do chị Trần Thị Hồng L, sinh năm 1989, cư trú t i phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh đứng tên trên Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô. Năm 2022, chị L đã bán xe ô tô trên cho chị Nguyễn Trần Phương C1, sinh năm 2001, cư trú t i ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Sau đó, chị C1 đi làm thủ t c sang tên còn biển số 51D-764.32 hiện đã được Phòng Cảnh sát giao thông Công an Thành phố H thu hồi theo quy định. Xét thấy, đây là vật chứng của v án nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một đã ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi c c Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một để Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một quyết định tịch thu, tiêu hủy.
Đối với 6.000 (sáu nghìn) bao thuốc lá điếu, nhãn hiệu Hero và 9.000 (chín nghìn) bao thuốc lá điếu, nhãn hiệu Jet, xét thấy đây là vật chứng của v án nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một đã ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi c c Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một để đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một quyết định tịch thu, tiêu hủy.
Đối với số tiền 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) do Nguyễn Công M ph m tội mà có và 01 điện tho i di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu vàng, số IMEI 1: 354741660892713, số IMEI 2: 354741660948176 do M sử d ng để làm phương tiện ph m tội nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một đã ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi c c Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một để đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một quyết định tịch thu, sung Ngân sách nhà nước.
Đối với đối tượng nam thuê Nguyễn Công M vận chuyển trái phép 15.000 bao thuốc lá điếu, nhập lậu các lo i, nhãn hiệu Hero và J, do quá trình điều tra M khai nhận, người nam dùng Z tên “Khang” và “Tuan” để liên hệ với M và M không biết rõ nhân thân, lai lịch của những đối tượng này, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trưng cầu Phòng K1 Công an tỉnh B trích xuất dữ liệu danh thiếp hoặc mã QR, tin nhắn, cuộc gọi trong ứng d ng Zalo của điện tho i di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu vàng, số IMEI 1: 354741660892713, số IMEI 2: 354741660948176 nhưng không tìm thấy dữ liệu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T sẽ tiếp t c điều tra, xác minh làm rõ và xử lý sau khi có đủ căn cứ.
* Cáo tr ng số 236/CT-VKSBD-P1 ngày 29 tháng 10 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Công M về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm b khoản 3 Điều 191 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa:
- Đ i diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T trong phần tranh luận, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Công M ph m tội “Vận chuyển hàng cấm”.
Về hình phạt: Áp d ng điểm b khoản 3 Điều 191; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), đề nghị xử ph t bị cáo Nguyễn Công M mức hình ph t từ 07 (bảy) năm đến 08 (tám) năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Không.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp d ng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 của Bộ luật Tố t ng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Tịch thu, sung ngân sách Nhà nước: Số tiền 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) và 01 điện tho i di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu vàng, số IMEI 1: 354741660892713, số IMEI 2: 354741660948176 thu giữ của Nguyễn Công M.
+ Tịch thu, tiêu huỷ: 01 biển số xe 51D-764.32; 6.000 (sáu nghìn) bao thuốc lá điếu, nhãn hiệu Hero và 9.000 (chín nghìn) bao thuốc lá điếu, nhãn hiệu Jet.
+ Trả l i cho anh Nguyễn Hoàng N1 01 xe ô tô nhãn hiệu Ford Ranger, màu đen, số khung MNCLMFF80NW187340, số máy P4AT4272719.
- T i phần tranh luận, bị cáo không tranh luận với đ i diện Viện Kiểm sát về tội danh, khung hình ph t và mức hình ph t đã nghị. Trong nói lời sau cùng, bị cáo nhận thức được hành vi sai trái của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình ph t cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh t ng t i phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, Kiểm sát viên trong quá trình kh i tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ t c quy định của Bộ luật Tố t ng hình sự. Quá trình điều tra và t i phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu n i về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Do đó, quyết định, hành vi tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đã thực hiện là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về sự vắng mặt của những người tham gia tố t ng: T i phiên toà, tất cả những người có quyền lợi, nghĩa v liên quan đến v án đều vắng mặt, nhưng đều đã có lời khai trình bày ý kiến của mình trong hồ sơ v án nên việc vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa v liên quan đến v án không làm ảnh hư ng đến việc giải quyết v án. Do đó, căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố t ng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tiếp t c xét xử v án vắng mặt tất cả những người có quyền lợi, nghĩa v liên quan đến v án.
T i phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi ph m tội. Lời khai của bị cáo t i phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo t i Cơ quan điều tra, biên bản bắt người ph m tội quả tang, biên bản hỏi cung bị can, biên bản lấy lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa v liên quan đến v án, cùng những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ v án, đủ cơ s kết luận: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 25/02/2024, trên đường Đ, đo n qua Khu phố H, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, bị cáo Nguyễn Công M đã có hành vi điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Ford Ranger, màu đen, biển số 51D-764.32 vận chuyển trái phép 15.000 (mười lăm nghìn) bao thuốc lá điếu, nhập lậu các lo i nhãn hiệu Hero và J (đã được H3 về việc thẩm định thuốc lá điếu ngo i nhập lậu, xác định là thuốc lá điếu nhập lậu) thì bị lực lượng Công an thuộc Đội Cảnh sát điều tra tội ph m về Kinh tế - Ma tuý phối hợp Đội Cảnh sát giao thông Công an thành phố T tiến hành kiểm tra, phát hiện và lập biên bản bắt người trong trường hợp ph m tội quả tang về hành vi vận chuyển hàng cấm. Hành vi mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển hàng cấm” được quy định t i điểm b khoản 3 Điều 191 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Vì vậy, Cáo tr ng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một truy tố đối với bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm h i trực tiếp đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý, sản xuất, kinh doanh một số lo i hàng cấm, nguy hiểm cho xã hội, gây lũng đo n thị trường, ảnh hư ng xấu đến tình hình trật tự xã hội và việc quản lý kinh tế t i địa phương. Về nhận thức, bị cáo biết hành vi của mình là vi ph m pháp luật nhưng vì tham lam, muốn nhanh chóng có tiền tiêu xài mà bị cáo đã bất chấp sự trừng ph t của pháp luật, thực hiện hành vi ph m tội với l i cố ý trực tiếp. Do đó, để có tác d ng giáo d c bị cáo, đồng thời nhằm đấu tranh phòng chống tội ph m chung, cần có mức hình ph t tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi ph m tội mà bị cáo đã thực hiện; cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác d ng răn đe, giáo d c bị cáo tr thành công dân có ích cho xã hội.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và t i phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi ph m tội của mình nên đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định t i điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Căn cứ nhân thân, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi ph m tội, cũng như tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét mức hình ph t mà đ i diện Viện Kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là cao nên Hội đồng xét xử quyết định cho phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: Không.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố t ng hình sự và Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017):
- Đối với: Số tiền 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) và 01 điện tho i di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu vàng, số IMEI 1: 354741660892713, số IMEI 2: 354741660948176 thu giữ của bị cáo Nguyễn Công M. Đây là số tiền thu lợi bất chính và phương tiện, công c bị cáo sử d ng để thực hiện hành vi ph m tội nên tịch thu, sung ngân sách Nhà nước.
- Đối với: 01 biển số xe 51D-764.32; 6.000 (sáu nghìn) bao thuốc lá điếu, nhãn hiệu Hero và 9.000 (chín nghìn) bao thuốc lá điếu, nhãn hiệu Jet. Đây là vật chứng của v án không còn giá trị sử d ng và không được phép lưu hành nên tịch thu, tiêu huỷ.
- Đối với: 01 xe ô tô nhãn hiệu Ford Ranger, màu đen, số máy P4AT4272719, số khung MNCLMFF80NW187340. Quá trình điều tra xác định chiếc xe này do anh Nguyễn Hoàng N1 đứng tên chủ s hữu; việc bị cáo Nguyễn Công M sử d ng chiếc xe này để vận chuyển hàng cấm thì anh N1 không biết nên trả l i cho anh N1.
Riêng, đối với hợp đồng thuê xe ô tô nhãn hiệu Ford Ranger, màu đen, số máy P4AT4272719, số khung MNCLMFF80NW187340 giữa vợ chồng anh N1, chị G với Công ty TNHH D1 và hợp đồng tín d ng, hợp đồng thế chấp chiếc xe ô tô nhãn hiệu Ford, màu đen, số máy P4AT4272719, số khung MNCLMFF80NW187340 giữa vợ chồng anh N1, chị G và Ngân hàng TMCP T1 - Chi nhánh Thành phố H được tách ra giải quyết thành v án dân sự khi các bên có yêu cầu.
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào các Điều 136, 260, 292, 331 và 333 của Bộ luật Tố t ng hình sự;
- Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 191; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử d ng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Công M ph m tội “Vận chuyển hàng cấm”.
2. Về hình ph t: Xử ph t bị cáo Nguyễn Công M 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù; thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày 25/02/2024.
3. Về trách nhiệm dân sự: Không.
4. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố t ng hình sự, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017):
4.1. Tịch thu, sung ngân sách Nhà nước: Số tiền 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) và 01 điện tho i di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu vàng, số IMEI 1: 354741660892713, số IMEI 2: 354741660948176 đã thu giữ của bị cáo Nguyễn Công M.
4.2. Tịch thu, tiêu huỷ: 01 (một) biển số xe 51D-764.32; 6.000 (sáu nghìn) bao thuốc lá điếu, nhãn hiệu Hero và 9.000 (chín nghìn) bao thuốc lá điếu, nhãn hiệu Jet.
4.3. Trả l i cho anh Nguyễn Hoàng N1 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu Ford Ranger, màu đen, số máy P4AT4272719, số khung MNCLMFF80NW187340.
(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 016.25 ngày 30 tháng 10 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một; Uỷ nhiệm chi vào tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một ngày 24 tháng 10 năm 2024)
5. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Công M phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
6. Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án trong thời h n 15 ngày kể từ ngày tuyên án; những người có quyền lợi, nghĩa v liên quan đến v án vắng mặt t i Tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời h n 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - Công an tỉnh Bình Dương (PV06); - S Tư pháp tỉnh Bình Dương; - VKSND thành phố Thủ Dầu Một; - Công an thành phố Thủ Dầu Một; - CCTHADS thành phố Thủ Dầu Một; - Người tham gia tố t ng; - Lưu: HS, Tòa. | TM HỘI Đ NG XÉT X SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thế Vọng |