vanban.org

Bản án 238/2024/HNGĐ-ST — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu thay đổi người trực T nuôi con sau khi ly hôn đối với cháu Trần Đức T1, sinh ngày 15/10/2012 của chị Vương Thị H.

T tục giao cháu Trần Đức T1 cho anh Trần Văn T nuôi dưỡng theo Bản án Hôn nhân và gia đình phúc thẩm số 43/2022/HNGĐ-PT ngày 16/12/2022 của Toà án nhân dân tỉnh Nam Định. Người không trực T nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Nhưng không lạm dụng việc thăm nom co… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "chị Vương Thị H thay đổi nuôi con với anh Nguyễn Văn T"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu thay đổi người trực T nuôi con sau khi ly hôn đối với cháu Trần Đức T1, sinh ngày 15/10/2012 của chị Vương Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HẢI HẬU
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 238/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 09/9/2024
V/v tranh chấp về thay đổi người trực
tiếp nuôi con sau khi ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Đính.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Văn Lịch;

Bà Nguyễn Thị Thuý Mùi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Xuyến – Thư ký Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.

- Đ i di n Vi n ki m sát nhân dân huy n H i H u tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Én – Kiểm sát viên.

Trong ngày 09 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hải Hậu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 145/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 153/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 8 năm 2024, giữa:

- Nguyên đơn: Chị Vương Thị H, sinh năm 1990; địa chỉ: Xóm 6, (xã Hải C cũ ), xã Hải X, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Có mặt.

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Chị Trần Thị V, sinh năm 2000; địa chỉ: Thôn T, xã A, huyện T, tỉnh Hải Dương ( Văn bản uỷ quyền ngày 20/6/2024). Có mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1984; địa chỉ: Xóm 17, xã Hải Đ, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Có mặt.

- Ngƣời làm chứng:

1. Bà Bùi Thị V, sinh năm 1957; địa chỉ: Xóm 17, xã Hải Đ, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Có mặt.

2. Ông Vương Văn B, sinh năm 1956; địa chỉ: Xóm 6, (xã Hải C cũ ), xã Hải X, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 05/6/2024, bản tự khai ngày 07/6/2024 và các lời khai trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn chị Vương Thị H và người đại diện theo uỷ quyền của chị H là chị Trần Thị Vân thống nhất trình bày:

Chị H và anh Trần Văn T kết hôn năm 2011 và đã ly hôn theo Bản án hôn nhân và gia đình phúc thẩm số 43/2022/HNGĐ-PT ngày 16/12/2022 của Toà án nhân dân tỉnh Nam Định. Về con chung, Toà án đã giao con chung là cháu Trần Đức T1, sinh ngày 15/10/2012 cho anh T trực T trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành và có khả năng lao động tự lập được. Chị H không phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho anh T. Sau khi ly hôn cháu T1 chung sống với anh T tại nhà mẹ đẻ của anh T. Trong thời gian cháu T1 chung sống với anh T chị H nhiều lần đến thăm cháu T1 nhưng bị anh T ngăn cản nên cháu rất nhớ chị H. Ngày 30/5/2024, do cháu T1 được nghỉ hè nên cháu T1 đã tự đạp xe đến nhà ông bà ngoại ở xóm 6, xã Hải Cường vì cháu muốn ở với mẹ. Hiện nay, chị H hoàn toàn có đủ điều kiện để nuôi dưỡng cháu T1, chị H đang làm nhân viên bán xăng dầu tại doanh nghiệp tư nhân xăng dầu Quang Huy Hải Sơn, địa chỉ ở xóm 1, xã Hải Sơn, mức thu theo hợp đồng là 10.000.000đ/tháng, có tháng thu nhập từ 12.000.000đ đến 13.000.000đ một tháng. Ngoài ra, cháu Nguyễn Đức T1 đã lớn, có nhận thức rõ ràng về việc bố cháu ngăn cấm cháu gặp mẹ là sai pháp luật đồng thời, cháu có nguyện vọng được ở với chị H. Do đó, để đảm bảo cho sự phát triển của con, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị H được quyền trực T nuôi cháu Trần Đức T1, chị H không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con và không cản trở việc anh T đến thăm con.

Tại bản tự khai ngày 14-01-2024 và các lời khai trong quá trình tố tụng, bị đơn anh Trần Văn T trình bày:

Anh nhất trí với lời trình bày của chị H về mối quan hệ vợ cH trước đây. Do chung sống không có hạnh phúc nên anh và chị H đã ly hôn. Về con chung, Tòa án sơ thẩm giao cháu Nguyễn Đức T1 cho chị H nuôi dưỡng, anh làm đơn kháng cáo, Tòa phúc thẩm đã giao lại cháu T1 cho anh trực T nuôi dưỡng. Sau khi được Tòa án giao cháu T1 cho anh nuôi dưỡng, mặc dù công việc của anh bận rộn đến đâu anh vẫn quan T1 chăm sóc cháu T1, tạo điều kiện về thời gian để cháu học hành ở trường, cho cháu đi học thêm vào thời gian cho phép. Anh và mẹ đẻ anh chưa bao giờ đánh đập, chửi mắng cháu hoặc cấm cản cháu gặp chị H. Trong năm học 2023-2024, lực học của cháu T1 đạt học sinh khá, thể lực của cháu phát triển bình thường. Ngoài thời gian đi học, anh tạo điều kiện để cháu chơi cùng bạn bè hàng xóm, không cấm cản cháu điều gì và đã tạo mọi điều kiện để cháu T1 có được cuộc sống ổn định như những đứa trẻ cùng trang lứa. Tuy nhiên, lợi dụng quyền thăm con, chị H nhiều lần đến nhà anh gây rối, thậm chí đập phá tài sản của gia đình anh, dồn ép cháu T1 về nhà bố mẹ đẻ chị H khiến anh nhiều lần gửi đơn đến các cơ quan chức năng để can thiệp. Sau khi Toà án Phúc thẩm giao con cho anh nuôi dưỡng nhiều lần, chị H nhắn tin chửi bới anh và đăng Facebook tung tin không đúng sự thật.

Đến ngày 30/5/2024, buổi sáng cháu T1 đạp xe đến trường Trung học cơ sở Hải Đ để dự lễ tổng kết năm học. Đến khoảng 9 giờ 45 phút, anh đến trường để đón cháu thì không thấy nên anh nhờ chị gái của anh gọi điện cho chị H hỏi thì chị H thừa nhận là đón cháu T1 về nhà bố mẹ đẻ ở xã Hải C. Anh đến nhà bố mẹ chị H để đón cháu T1 thì bố mẹ chị H khóa cổng không cho anh vào và đuổi anh về. Ngày 31/5/2024, anh gửi đơn đề nghị đến UBND xã Hải C và Công an xã Hải C can thiệp, chị H đã ký biên bản làm việc với Công an xã sẽ giao lại cháu T1 cho anh nhưng chị H không thực hiện. Ngày 15 tháng 6 năm 2024, Công an xã Hải Cường T tục làm việc với chị H lần nữa thì lần này chị H mới chịu giao cháu T1 cho anh đón về. Nhưng đến ngày 17 tháng 6 năm 2024, chị H lại tự ý đón cháu T1 về, không được sự đồng ý của anh. Từ ngày 17/6/2024 đến nay anh nhiều lần đến nhà bố mẹ đẻ của chị H để mong muốn gặp cháu T1 và đón cháu T1 về nhưng đều bị gia đình chị H từ chối. Ngày 01/8/2024 cháu T1 đi nhận lớp và học hè, nhưng chị H đã không đưa cháu T1 đến trường, việc làm của chị H có nguy cơ cháu T1 sẽ bỏ lỡ một năm học.

Nay anh đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu của chị H, T tục giao cháu T1 cho anh nuôi dưỡng theo đúng bản án của Tòa án phúc thẩm để cháu được đến trường vào năm học mới. Anh xin đảm bảo sẽ chăm sóc cháu T1 với điều kiện tốt nhất, tạo mọi điều kiện để cháu T1 phát triển như những đứa trẻ cùng độ tuổi. Hiện anh đang đi làm tại công ty TNHH MTV Thương mại và sản xuất kinh doanh Tiến Đạt tại thị trấn Cồn thu nhập là 15.000.000đ/tháng nên anh đủ điều kiện nuôi con.

Tại đơn đề nghị ngày 30/8/2024, người làm chứng bà Bùi Thị Vam trình bày:

Bà là mẹ đẻ của anh T. Sau khi anh T và chị H ly hôn thì cháu T1 đã được Toà án giao cho anh T nuôi dưỡng. Anh T và cháu T1 ở nhà đất của bà. Bà đã hỗ trợ cho anh T rất nhiều như nấu ăn, đi chợ và đưa đón cháu T1, khi anh T bận đi làm. Trong thời gian cháu T1 ở với anh T, cháu T1 sức khoẻ tốt, học tập khá. Bà khẳng định không có việc anh T và gia đình ngăn cản việc chị H đến thăm con, bản thân chị H cũng không đến thăm con. Nay chị H làm đơn thay đổi nuôi con đối với anh T, gia đình bà không đồng ý vì không có lý do gì để thay đổi.

Tại phiên toà ông Vương Văn Bầu trình bày: Ông là bố đẻ của chị Vương Thị H. Sau khi chị H, anh T ly hôn, chị H đã về chung sống với vợ cH ông. Từ ngày 30/5/2024 đến nay, cháu Trần Đức T1 về chung sống với chị H, vợ cH ông hoàn toàn nhất trí. Nếu được Toà án giao cháu T1 cho chị H nuôi dưỡng thì vợ cH ông sẽ tạo mọi điều kiện tốt nhất vể chỗ ăn, ở để chị H nuôi con và sẽ hỗ trợ chị H nuôi cháu T1 trong thời gian chị H đi làm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đều đảm bảo tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với các đương sự đều chấp hành đúng quyền, nghĩa vụ theo pháp luật.

Về nội dung: Căn cứ Điều 81, 82, 83, khoản 2 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vương Thị H do chị H không chứng minh được anh T không còn đủ điều kiện trực T nuôi con nên T tục giao cháu Nguyễn Đức T1 cho anh Trần Văn T trực T chăm sóc, nuôi dưỡng. Về án phí dân sự sơ thẩm nguyên đơn phải nộp theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật: Chị Vương Thị H yêu cầu thay đổi người trực T nuôi con nên đây là vụ án “Tranh chấp về thay đổi người trực T nuôi con sau khi ly hôn” được quy định tại khoản 3 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án:

Căn cứ theo Bản án hôn nhân và gia đình phúc thẩm số 43/2022/HNGĐ-PT ngày 16/12/2022 của Toà án nhân dân tỉnh Nam Định đã quyết định giao con chung của chị Vương Thị H và anh Trần Văn T là cháu Trần Đức T1, sinh ngày 15/10/2012 cho anh T trực T chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; chị H không phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho anh T và được quyền thăm nom con. Từ sau khi ly hôn đến ngày 30/5/2024, cháu T1 ở cùng với anh T. Nhưng nay chị H yêu cầu thay đổi người trực T nuôi con sau khi ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy, để quyết định người trực T nuôi con sau khi ly hôn cho ai cần phải xem xét quyền lợi về mọi mặt của cha hoặc mẹ để đảm bảo sự phát triển về thể chất và tinh thần đầy đủ cho con.

Lý do khởi kiện của chị Vương Thị H cho rằng mỗi lần thăm non con, anh T đều cấm cản, bản thân cháu T1 đã khôn lớn cũng có nguyện vọng xin được ở với chị H; công việc và thu nhập của chị H ổn định, có chỗ ở thuận lợi cho con học tập và vui chơi, có nhiều thời gian rảnh rỗi để trực T chăm sóc con. Tuy nhiên anh T không đồng ý giao con cho chị H, anh khẳng định vẫn đảm bảo các điều kiện trực T nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, theo khoản 2 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “2. Việc thay đổi người trực T nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực T nuôi con phù hợp với lợi ích của con;

b) Người trực T nuôi con không còn đủ điều kiện trực T trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con”.

Xét về điều kiện trực T nuôi con của anh Trần Văn T thì thấy: Anh T hiện đang làm nghề lái xe giao hàng tại Công ty TNHH MTV Thương mại và sản xuất kinh doanh Tiến Đạt tại thị trấn Cồn thu nhập là 15.000.000đ/tháng, anh làm việc buổi sáng, buổi chiều thì ở nhà. Khi nuôi con anh T còn được sự giúp đỡ, hỗ trợ trực T của mẹ đẻ anh T trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T1 khi anh T đi làm. Cháu T1 ở cùng với anh T, phát triển khoẻ mạnh, năm học 2023-2024 cháu T1 học tại Trường THCS xã Hải Đ học lực khá, việc học tập, sinh hoạt thuận lợi. Xác minh tại UBND xã Hải Đ, nghe ý kiến của đại diện sở xóm 17, Hội phụ nữ xã Hải Đ và cô giáo chủ nhiệm của cháu T1 đều khẳng định cháu T1 được chăm sóc, nuôi dưỡng rất tốt, gia đình anh T cũng hỗ trợ anh T nuôi con chu đáo, không có dư luận gì về việc nuôi con của anh T. Còn chị H làm nhân viên bán xăng dầu tại doanh nghiệp tư nhân xăng dầu Quang Huy Hải Sơn, thời gian làm việc cả ngày nên thời gian chăm sóc con không thể tốt hơn anh T được. Mặt khác cháu T1 là con trai đang đến tuổi phát triển T1 sinh lý nên rất cần sự giáo dục của người cha, việc thay đổi môi trường mới cũng ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển của cháu T1.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà mặc dù cháu T1 có lời khai xin được ở với chị H, nhưng lời khai của cháu T1 không phải là căn cứ duy nhất để quyết định việc giao cháu T1 cho ai nuôi dưỡng. Đến nay, mặc dù bản án phúc thẩm số 43/2022/HNGĐ-PT ngày 16/12/2022 của Toà án nhân dân tỉnh Nam Định đang có hiệu lực pháp luật, nhưng chị H tự ý đón cháu T1 về nuôi dưỡng không được sự đồng ý của anh T là vi phạm khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình. Học hè cũng như năm học mới đã khai giảng nhưng chị H không đưa cháu T1 đến trường học đúng tuyến, mà cho cháu T1 học tạm thời ở trường THCS Hải Cường như lời khai của chị H, sẽ ảnh hưởng đến quyền được đến trường và bỏ lỡ năm học của cháu T1.

Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy, anh T vẫn đủ điều kiện trực T chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung nên chị H yêu cầu thay đổi người trực T nuôi con đối với cháu T1 là không có cơ sở chấp nhận.

Xét về nghĩa vụ cấp dưỡng thì thấy: Theo Bản án Hôn nhân và gia đình phúc thẩm số 43/2022/HNGĐ-PT ngày 16/12/2022 của Toà án nhân dân tỉnh Nam Định, anh T không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa anh T cũng không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con nên về cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của chị Vương Thị H không được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch theo quy định pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 81, Điều 82, Điều 83 và khoản 2 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

1. Không chấp nhận yêu cầu thay đổi người trực T nuôi con sau khi ly hôn đối với cháu Trần Đức T1, sinh ngày 15/10/2012 của chị Vương Thị H.

T tục giao cháu Trần Đức T1 cho anh Trần Văn T nuôi dưỡng theo Bản án Hôn nhân và gia đình phúc thẩm số 43/2022/HNGĐ-PT ngày 16/12/2022 của Toà án nhân dân tỉnh Nam Định. Người không trực T nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Nhưng không lạm dụng việc thăm nom con để cản trở gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Nghĩa vụ bàn giao con: Buộc chị Vương Thị H phải bàn giao cháu Trần Đức T1 cho anh T nuôi dưỡng.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 3 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chị Vương Thị H phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được đối trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng áp phí là 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0003203 ngày 07/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu. Chị Vương Thị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nh n:

Cỡ chữ