- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Tuấn K trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Tuấn K phạm tội “trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 238/2022/HS-ST Ngày: 28 – 12 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N1 TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Nguyên Vũ
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Thái Minh Trí
2. Bà Trần Thanh Phương
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngọc Thị Ngoan - Thư ký tòa án nhân dân huyện N1, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N1, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Trần Quang Huy – Kiểm sát viên
Ngày 28 tháng 12 năm 2022 tại Tòa án nhân dân huyện N1, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 214/TLST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 209/2022/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2022 và quyết định hoãn phiên tòa số: 60/HSST-QĐ ngày 28/11/2022 đối với bị cáo:
Phan Tuấn K, sinh ngày 19/07/2002, tại tỉnh Đồng Nai, nơi cư trú: Ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đ; chỗ ở hiện nay: Khu phố P, thị trấn H, huyện L, tỉnh Đ; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Mạnh D, sinh năm 1981 và bà Bùi Thị Kim H, sinh năm 1981; vợ, con: chưa có; tiền án; tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 13/8/2022 đến ngày 19/8/2022 được tại ngoại điều tra.
Người bị hại: Anh Nguyễn Bảo H, sinh ngày 28/3/2003, địa chỉ: Khu phố P, thị trấn H, huyện N, tỉnh Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 04 giờ 30 phút ngày 13/08/2022, Phan Tuấn K điều khiển xe đạp hiệu Martin đi từ phòng trọ của mình tại Khu phố P, thị trấn H, huyện N, tỉnh Đ tìm kiếm tài sản để trộm cắp. Đến khoảng 05 giờ cùng ngày, K đi đến dãy nhà trọ của bà Nguyễn Thị T tại Khu phố P, thị trấn H, huyện N, tỉnh Đ thì K nhìn thấy xe mô tô hiệu Honda, biển kiểm soát: 60Y4-8817, màu sơn đỏ, đen của anh Nguyễn Huy B đang dựng trước cửa phòng trọ 2A, không có người trong coi nên K để xe đạp của mình ở ngoài rồi đi bộ đến và lén lút đẩy xe mô tô đi ra ngoài theo hướng về nhà văn hóa thị trấn H thì bị anh H phát hiện và gọi điện thoại báo Công an thị trấn H, đồng thời H gọi anh Phan Thanh P ở cùng phòng trọ để cùng truy đuổi bắt K. Khi K đẩy chiếc xe mô tô đi được khoảng 100 mét trên đường hẻm hướng về Nhà văn hoá H thì Công an thị trấn H bắt giữ K, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N1 xử lý theo thẩm quyền.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 91/KLĐG-HĐĐG ngày 16/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện N1 kết luận 01 (một) xe mô tô hiệu Honda, loại Wave S, màu sơn đỏ-đen biển số 60Y4-8817 giá trị sử dụng còn lại 70%, có giá trị là 6.300.000 đồng.
- Về tình tiết tăng nặng: không; Về tình tiết giảm nhẹ: Phan Tuấn K có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.
Về tang vật thu giữ: 01 (một) xe mô tô hiệu Honda, loại Wave S, màu sơn đỏ-đen biển số 60Y4-8817 (đã xử lý vật chứng trả cho anh Nguyễn Bảo H); 01 xe đạp hiệu Martin màu xanh K sử dụng làm phương tiện phạm tội.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là anh Nguyễn Bảo H không có yêu cầu Phan Tuấn K bồi thường.
Tại bản cáo trạng số: 189/CT.VKS-NT ngày 27/10/2021 Viện kiểm sát nhân dân huyện N1, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Phan Tuấn K về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N1 vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng và đề nghị:
- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Phan Tuấn K từ 01 năm đến 01 năm 02 tháng tù.
- Về vật chứng: Tịch thu 01 xe đạp hiệu Martin màu xanh K dùng làm phương tiện đi thực hiện hành vi phạm tội sung quỹ nhà nước.
- Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là anh Nguyễn Bảo H không có yêu cầu Phan Tuấn K bồi thường nên không giải quyết.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố. Bị cáo Phan Tuấn K không tranh luận với bản luận tội của Kiểm sát viên và nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức án cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện N1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N1, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Tại phiên toà ngày hôm nay bị cáo Phan Tuấn K (sinh ngày 19/7/2002) có đủ năng lực trách nhiệm hình sự thừa nhận: Vào lúc 05 giờ ngày 13/08/2022, tại dãy nhà trọ của bà Nguyễn Thị T tại Khu phố P, thị trấn H, huyện N, tỉnh Đ. Bị cáo K đã lợi dụng không có người trông coi đã lén lút trộm cắp 01 xe mô tô hiệu Honda, biển kiểm soát: 60Y4-8817, màu sơn đỏ, đen của anh Nguyễn Bảo H đang dựng trước cửa phòng trọ 2A, K đẩy xe mô tô đi ra ngoài theo hướng về Nhà văn hóa thị trấn H được 100 mét thì bị anh H phát hiện và gọi điện thoại báo Công an thị trấn H bắt giữ.
Lời thừa nhận của bị cáo K tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; lời khai người làm chứng; người bị hại và các chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Cho thấy bị cáo Phan Tuấn K đã có hành vi lén lút trộm cắp chiếc mô tô hiệu Honda, biển kiểm soát: 60Y4-8817, theo Kết luận định giá tài sản số: 91/KLĐG-HĐĐG ngày 16/8/2022 trị giá 6.300.000 đồng, di chuyển đi khoảng 100 mét thì bị phát hiện bắt giữ và hành vi phạm tội đã thực hiện xong.
Nên có đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo Phan Tuấn K đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) có mức hình phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Do đó, cáo trạng số 189/CT.VKS-NT ngày 27/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện N1 truy tố bị cáo Phan Tuấn K là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Về nhân thân, tính chất mức độ của hành vi phạm tội và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do Phan Tuấn Kthực hiện là ít nghiêm trọng, hành vi là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ. Thể hiện thiếu ý thức chấp hành pháp luật, nên cần xét xử nghiêm.
Tình tiết tăng nặng: Không có; Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Phan Tuấn K thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó cần cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo thể hiện tính nhân đạo của chính sách pháp luật hình sự, nhằm cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội.
Xét lời luận tội của Viện kiểm sát về tội danh, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và mức hình phạt là phù hợp với nhận định trên nên chấp nhận.
. Về vật chứng: 01 xe đạp hiệu Martin màu xanh K dùng để đi thực hiện hành vi trộm cắp là phương tiện dùng vào việc phạm tội, cần tịch thu xung quỹ nhà nước là có căn cứ.
. Về trách nhiệm dân sự: Đã bồi thường xong, người bị hại không có yêu cầu gì thêm nên miễn xét.
. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Phan Tuấn K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);
Tuyên bố bị cáo Phan Tuấn K phạm tội “trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Phan Tuấn K 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án phạt tù nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ là 06 ngày (từ ngày 13/8/2022 đến 19/8/2022).
- Bắt giam bị cáo Phan Tuấn K tại phiên tòa.
Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Bị cáo Phan Tuấn K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận - TA tỉnh -VKS, THA, CA - Bị cáo, bị hại; - Lưu HS, VP | Trần Nguyên Vũ |