vanban.org

Bản án 238/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Hải Y và anh Trần Văn H.

Về nuôi con chung: Giao cháu Trần Anh K (giới tính: Nam), sinh ngày 09-01-2016 cho chị Nguyễn Thị Hải Y trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị Hải Y không yêu cầu anh Trần Văn H cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Hải Y - Trần Văn H"
  • Tòa quyết gì? Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Hải Y và anh Trần Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự xử vắng mặt chị Nguyễn Thị Hải Y và anh Trần Văn H; Điều 227 Bộ luật tố tụng Dân sự xử vắng mặt chị Nguyễn Thị Hải Y và anh Trần Văn H; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TPNĐ
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 238/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 27-7-2022
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa
chị Nguyễn Thị Hải Y và anh Trần Văn H

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TPNĐ - TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Mai Anh.

Các hội thẩm nhân dân:

Bà Trịnh Thị Kim Cúc.

Ông Nguyễn Tiến Dũng.

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Phương Thủy – Thư ký Toà án nhân dân TPNĐ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TPNĐ tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Thảo – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân TPNĐ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 160/2022/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2022 về việc“Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hải Y, sinh năm 1992; căn cước công dân số; xxxxxxxxxxxx; nơi cư trú: Xóm G, thôn An D, xã Đại A, huyện Vụ B, tỉnh Nam Định (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

- Bị đơn: Anh Trần Văn H, sinh năm 1991; căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx; Nơi đăng ký thường trú: Thôn Lộng Đ, xã Lộc A, TPNĐ, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Xóm Thị K, xã Lộc A, TPNĐ, tỉnh Nam Định; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Tại đơn khởi kiện tranh chấp hôn nhân và gia đình đề ngày 01-6-2022 và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Hải Y trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Văn H tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân xã Lộc An, TPNĐ vào ngày 21-9-2015. Sau khi kết hôn chị và anh H sống hòa thuận, hạnh phúc đến khoảng năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh H không tu chí làm ăn, chơi bời, nợ nần, có tính gia trưởng, vợ chồng chị bất đồng quan điểm sống, tính cách không hòa hợp và đã sống ly thân từ tháng 7-2021 cho đến nay. Nay chị xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn.

- Về con chung: Chị và anh H có 01 con chung là Trần Anh K (giới tính: Nam), sinh ngày 09-01-2016. Nếu ly hôn chị đề nghị Tòa án giao con chung cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc vì hiện tại cháu K đang ở với chị, chị có đủ điều kiện để nuôi dưỡng và chăm sóc con.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị tự nguyện không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án nhân dân TPNĐ đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Trần Văn H đến tham gia tố tụng nhưng anh H không đến Toà án theo giấy triệu tập.

3. Tại biên bản thu thập chứng cứ về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng, đại diện xóm Thị K, xã Lộc A, TPNĐ nơi anh Trần Văn H cư trú cung cấp:

Vợ chồng anh Trần Văn H và chị Nguyễn Thị Hải Y có đăng ký kết hôn tại UBND xã Lộc A, TPNĐ vào ngày 21-9-2015. Anh Trần Văn H đăng ký thường trú tại thôn Lộng Đ, xã Lộc A, TPNĐ, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn chị Y anh H sinh sống tại xóm Thị K, xã Lộc A, TPNĐ, tỉnh Nam Định. Vợ chồng anh chị có 01 con chung là cháu Trần Anh K (giới tính: Nam), sinh ngày 09-01-2016. Chị và con trai anh chị đã về nhà mẹ đẻ chị ở huyện Vụ B, tỉnh Nam Định sinh sống từ tháng 5 năm 2021 cho đến nay. Chính quyền địa phương không biết nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng anh chị và đề nghị Toà án giải quyết về quan hệ hôn nhân và con chung của chị Y và anh H theo quy định của pháp luật.

4. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật của thẩm phán, hội đồng xét xử, thư ký phiên toà trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm hội đồng xét xử nghị án: Đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự.

- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị Hải Y đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình; anh H không đến Tòa án để giải quyết vụ án mặc dù Tòa án đã giao các văn bản tố tụng hợp lệ.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Hải Y. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Hải Y và anh Trần Văn H; Giao cho chị Nguyễn Thị Hải Y trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Trần Anh K (giới tính: Nam), sinh ngày 09-01-2016. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị Hải Y không yêu cầu anh Trần Văn H cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: chị Nguyễn Thị Hải Y không yêu cầu Tòa án giải quyết. Án phí ly hôn sơ thẩm chị Nguyễn Thị Hải Y phải nộp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà, Tòa án nhân dân TPNĐ nhận định:

Về tranh chấp được giải quyết trong vụ án:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Hải Y yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn anh Trần Văn H, giải quyết về người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng. Bị đơn là anh Trần Văn H không có yêu cầu phản tố. Do vậy quan hệ tranh chấp trong vụ án được xác định là ly hôn, tranh chấp nuôi con.

Về sự vắng mặt của đương sự tại phiên tòa:

Bị đơn là anh Trần Văn H đã được triệu tập phiên tòa hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không vì sự kiện bất khả kháng; nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Hải Y có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự xử vắng mặt chị Nguyễn Thị Hải Y và anh Trần Văn H.

Về nội dung tranh chấp trong vụ án:

3.1. Về quan hệ hôn nhân:

Hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Hải Y và anh Trần Văn H là hôn nhân hợp pháp. Sau một thời gian chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chị Nguyễn Thị Hải Y khai do anh H không tu chí làm ăn, chơi bời, nợ nần, có tính gia trưởng, vợ chồng chị bất đồng quan điểm sống, tính cách không hòa hợp và đã sống ly thân từ tháng 7-2021 cho đến nay. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Trần Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Xét hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Hải Y và anh Trần Văn H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu của chị Y, xử cho chị Nguyễn Thị Hải Y và anh Trần Văn H ly hôn theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị Hải Y và anh Trần Văn H có một con chung là cháu Trần Anh K (giới tính: Nam), sinh ngày 09-01-2016. Hiện nay cháu K đang sinh sống ổn định cùng chị Y, xét chị Y có đầy đủ điều kiện nuôi dưỡng và chăm sóc con nên Hội đồng xét xử giao cháu Trần Anh K cho chị Nguyễn Thị Hải Y trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị Hải Y không yêu cầu anh Trần Văn H cấp dưỡng nuôi con chung là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật nên được ghi nhận.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng:

Chị Nguyễn Thị Hải Y và anh Trần Văn H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Án phí Dân sự sơ thẩm:

Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV thì án phí trong vụ án sẽ được quyết định như sau:

Chị Nguyễn Thị Hải Y là nguyên đơn nên phải nộp án phí theo quy định của pháp luật. Số tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm chị Y đã nộp được khấu trừ vào án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;

- Căn cứ khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; khoản 4 Điều 147; của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

1. Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Hải Y và anh Trần Văn H.

2. Về nuôi con chung: Giao cháu Trần Anh K (giới tính: Nam), sinh ngày 09-01-2016 cho chị Nguyễn Thị Hải Y trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị Hải Y không yêu cầu anh Trần Văn H cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Bên không trực tiếp nuôi con chung có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Không ai được hạn chế, cản trở các quyền này.

Bên không trực tiếp nuôi con chung có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con

được sống chung với người trực tiếp nuôi con, không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng con của người trực tiếp nuôi con chung.

4. Án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Hải Y phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Số tiền này được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) chị đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005310 ngày 06-6-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự TPNĐ.

5. Chị Nguyễn Thị Hải Y và anh Trần Văn H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự: Chị Nguyễn Thị Hải Y và anh Trần Văn H có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án. Anh Trần Văn H có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ