vanban.org

Bản án 238/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị Ngọc T.

Về hôn nhân: Chị Huỳnh Thị Ngọc T được ly hôn với anh Võ Văn P. Giấy chứng nhận kết hôn số 104 ngày 09/6/2017 của Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị T yêu cầu ly hôn với anh P"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị Ngọc T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 238/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 15-7-2020
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Giao

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Văn Năng

2. Ông Nguyễn Nhựt Thảo

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Hữu Phúc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Cao Thị Thu Hồng Em - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 201/2019/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2019 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 94/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 6 năm 2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 83/2020/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Huỳnh Thị Ngọc T, sinh năm: 1994; Địa chỉ: Tổ X, ấp V, xã Đ, huyện C, tỉnh An Giang (có đơn xin xét xử vắng mặt ngày 14/7/2020)

2. Bị đơn: Võ Văn P, sinh năm: 1995; Địa chỉ: Ấp C, xã Đ, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Huỳnh Thị Ngọc T trình bày:

- Về hôn nhân: Chị T và anh P tự tìm hiểu và được cha mẹ tổ chức lễ cưới vào năm 2017, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C, tỉnh An Giang. Sau khi kết hôn, anh chị sống chung với gia đình chị T. Trong thời gian chung sống, anh P có mối quan hệ ngoài hôn nhân với người phụ nữ khác và nhiều lần sử dụng bạo lực với chị T và đập phá tài sản trong nhà nên anh chị ly thân vào tháng 3/2018. Đến tháng 01/2019, anh P trở về năn nỉ muốn hàn gắn với chị T, vì thương con nên chị đồng ý hòa giải với anh P, nhưng đến tháng 3/2019 anh P tiếp tục có hành vi bạo lực gia đình và bị Công an xã Đ xử phạt hành chính, anh P cũng về nhà cha mẹ ruột sống đến nay. Chị T xác định không còn tình cảm với anh P nên yêu cầu ly hôn với anh P.

- Về con chung: Có 01 con chung tên Võ Huỳnh An H, sinh ngày 24/11/2017. Sau khi ly hôn, chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi con, yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con 2.000.000đ/tháng.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tòa án đã nhiều lần triệu tập bị đơn anh Võ Văn P nhưng anh P đều vắng mặt không có lý do, đồng thời không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án tiến hành các thủ tục xác minh, lấy lời khai nhưng bị đơn không có mặt tại nhà khi cán bộ Tòa án đến, nên không lấy được lời khai của bị đơn.

* Tại biên bản xác minh ngày 21/5/2020, ông Cao Thanh H – Trưởng ấp Cần Thạnh, xã Cần Đăng, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xác nhận: Sau khi kết hôn vợ chồng bà T và ông P thường xuyên cự cãi, ông P có đánh bà T nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Hiện nay hai người không còn sống chung, bà T về nhà cha mẹ ruột sống, còn ông P sống với cha mẹ ông P.

* Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và trình bày ý kiến vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn, yêu cầu được quyền nuôi con và không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con.

- Bị đơn vắng mặt, không có ý kiến trình bày.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu:

+ Về chấp hành pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn không chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Huỳnh Thị Ngọc T, giao cháu H cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng, chị T rút lại yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nguyên đơn không tranh chấp về tài sản chung và nợ chung nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

1.1 Quan hệ tranh chấp: Tranh chấp giữa chị Huỳnh Thị Ngọc T và anh Võ Văn P là tranh chấp về ly hôn và tranh chấp về nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

1.2 Thẩm quyền giải quyết: Tại biên bản xác minh ngày 21/5/2020, Công an xã Đ, huyện C, tỉnh An Giang xác định: Võ Văn P hiện đang có đăng ký hộ khẩu tại ấp C, xã Đ, huyện C, tỉnh An Giang và hiện đang sinh sống thường xuyên tại địa chỉ trên. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

1.3 Về sự có mặt của đương sự: Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn đến Tòa án để tham gia phiên toà xét xử vụ án nhưng bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt được Hội đồng xét xử chấp nhận. Do đó căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự.

Về nội dung tranh chấp:

2.1 Về hôn nhân: Chị Huỳnh Thị Ngọc T và anh Võ Văn P có làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình và được Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C, tỉnh An Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 104 ngày 09/6/2017. Như vậy, hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ khi xảy ra tranh chấp. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần mở phiên hòa giải nhằm tạo điều kiện để chị T và anh P được đoàn tụ, nhưng chị T cương quyết ly hôn, anh P vắng mặt tại các phiên họp và không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị T, điều này chứng tỏ anh P cũng không có nguyện vọng được đoàn tụ với chị T, anh chị đã ly thân từ tháng 3/2019 đến nay, trong thời gian ly thân anh chị không có biện pháp hàn gắn lại tình cảm gia đình. Như vậy hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Huỳnh Thị Ngọc T.

2.2 Về con chung: Chị T trình bày anh chị có một con chung tên Võ Huỳnh An H, sinh ngày 24/11/2017, chị có yêu cầu được tiếp tục nuôi con, anh P không có văn bản trình bày ý kiến. Hội đồng xét xử nhận thấy, từ khi chị T và anh P ly thân đến nay, cháu H sống ổn định với chị T, cháu H chưa đủ 36 tháng tuổi, rất cần có sự chăm sóc của mẹ, nên theo quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T, giao cháu H cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tại đơn khởi kiện chị T yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con chung với mức cấp dưỡng là 2.000.000đ/tháng. Tại đơn xin vắng mặt phiên tòa ngày 14/7/2020, chị T rút lại yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, việc rút yêu cầu của chị T là hoàn toàn tự nguyện, do đó Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự đình một phần yêu cầu khởi kiện của chị T về cấp dưỡng nuôi con.

Chị T và gia đình phải tạo điều kiện cho anh P trong việc thực hiện nghĩa vụ, quyền của cha mẹ đối với con chung theo quy định tại Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Việc nuôi con có thể bị thay đổi theo quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình.

2.3 Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí sơ thẩm: Chị T là nguyên đơn nên phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.

Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 2 Điều 244, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.

Xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị Ngọc T.

- Về hôn nhân: Chị Huỳnh Thị Ngọc T được ly hôn với anh Võ Văn P.

Giấy chứng nhận kết hôn số 104 ngày 09/6/2017 của Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.

- Về con chung: Chị Huỳnh Thị Ngọc T được tiếp tục nuôi con chung tên Võ Huỳnh An H, sinh ngày 24/11/2017.

Đình chỉ yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị T. Anh P không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Việc nuôi con có thể bị thay đổi dựa trên cơ sở lợi ích của con.

2. Về án phí sơ thẩm: Chị Huỳnh Thị Ngọc T phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0014312 ngày 07/6/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Quyền kháng cáo: Chị Huỳnh Thị Ngọc T và anh Võ Văn P được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bàn án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ