vanban.org

Bản án 238/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 28/09/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lâm Thanh H phạm tội “ Trộm cắp tài sản”

Xử phạt: Lâm Thanh H 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bắt tạm giam 19/9/2018 (nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 12/4/2018 đến 18/4/2018). VÒ tr¸ch nhiÖm d©n sù: Công nhận bị hại là anh Hoàng Ngọc Q đã nhận tài sản và không có yêu cầu gì thêm.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lâm Thanh H phạm tội “ Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THANH HOÁ
TỈNH THANH HÓA
Bản án số: 238/2018/HS - ST

Ngày: 28- 9- 2018

Nh©n danh

N­íc céng hoµ x· héi chñ nghÜa ViÖt nam

Tßa ¸n ND Thµnh Phè Thanh Ho¸ - TØnh Thanh ho¸

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm"phán"-"Chủ"toạ"phiên"toà: Bà Trần Thị Thủy

Các"Hội"thẩm"nhân"dân:""Ông Lê Văn Luận

Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy"

-"Th­ ký phiªn toµ: Bà Nguyễn Thị Hải Hà - Thư ký Tßa ¸n TP Thanh Ho¸."

- §¹i diÖn VKSND Thµnh phè Thanh Ho¸ tham gia phiªn toµ:

Ông Đ Thanh Hải - KiÓm s¸t viªn

Ngµy 28 th¸ng 9 n¨m 2018, t¹i trô së Tßa ¸n nh©n d©n thµnh phè Thanh Ho¸ xÐt xö s¬ thÈm công khai vô ¸n h×nh sù sơ thẩm thô lý sè 255/2018/TLST-HS ngµy 29 th¸ng 6 n¨m 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 163/2018/QĐXXST - HS ngày 09/7/2018 ®èi víi bÞ c¸o:

Lâm Thanh H - sinh năm 1998 tại Thanh Hóa. Nơi cứ trú: Thôn T, xã Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lâm Thanh P và bà Nguyễn Thị H2; tiền án, tiền sự: không. Tạm giữ: 12/4/2018; thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cứ trú ngày 18/4/2018; bị bắt tạm giam ngày 19/9/2018 “có mặt”.

Bị hại: Anh Hoàng Ngọc Q - SN 1994 “vắng mặt’. ĐKHK: Thôn C, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa. Nơi ở hiện nay: phường Q, thành phố T.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12h ngày 06/4/2018 Lâm Thanh H đến khu trọ tại phường Q, thành phố T mục đích trộm cắp tài sản. Khi đi H mang theo chiếc chìa khóa đã đánh sẵn, đến nơi H phát hiện thấy 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave alpha BKS 36B3-17014 của anh Hoàng Ngọc Q để ở dãy hành lang của khu nhà trọ không có người trông coi. H dùng chìa khóa mang theo mở khóa lấy xe dắt ra

1

ngoài, nổ máy điều khiển xe đến khu vực ngã tư gần trường Cao đẳng đón bạn gái là Trịnh Thị Đ ở xã Q, huyện Q, Thanh Hóa. Sau đó H chở chị Đ mang xe đến Công ty tài chính T ở đường Q, phường Đ, thành phố Thanh Hóa cầm cố lấy 7.500.000đ. Số tiền này H đã sử dụng cá nhân hết.

Ngày 12/4/2018, H đến cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thanh Hóa đầu thú và giao nộp 01 CMND và 01 giấy phép lái xe mang tên Hoàng Ngọc Q. Anh Nguyễn Thế A đã tự nguyện giao nộp chiếc xe máy và 01 giấy đăng ký xe máy BKS 36 B3 - 17014 mang tên Hoàng Ngọc Q.

Ngµy 17/4/2018 Héi ®ång ®Þnh gi¸ tµi s¶n trong tè tông h×nh sù, ®· x¸c ®Þnh chiếc xe máy Wave alpha BKS 36B3-17014 trị giá 15.000.000đ. Anh Q đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm về bồi thường dân sự.

Đối với Trịnh Thị Đ là người đi cùng H để cầm cố xe và Nguyễn Thế A là người cho H cầm cố chiếc xe máy trên để vay tiền nhưng chị Đ và anh Thế A đều không biết chiếc xe máy trên là do trộm cắp mà có nên không có căn cứ để xử lý.

Anh Nguyễn Thế A đã nhận đủ số tiền cho H cầm cố xe và không có yêu cầu gì thêm.

Tại bản cáo trạng số 167/CT-VKS-KT ngày 28 tháng 6 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thanh Hoá truy tố Lâm Thanh H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thanh Hoá giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS năm 2015 đề nghị xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 09 đến 12 tháng tù;

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiền hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại cùng các tài liệu khác phản ánh trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở chứng minh: khoảng 12h ngày 06/4/2018 tại phường Q,

2

thành phố T. Lâm Thanh H đã trộm cắp 01 xe máy hiệu Honda Wave alpha BKS 36B3-17014 của anh Hoàng Ngọc Q trị giá 15.000.000đ.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi phạm tội của Lâm Thanh H có đủ các dấu hiệu cấu thành tội “ Trộm cắp tài sản”. Tội danh và khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của BLHS năm 2015 như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là đúng pháp luật.

[3] Tính chất vụ án: Do có chủ định phạm tội từ trước nên bị cáo đã chuẩn bị công cụ phạm tội cũng như địa điểm phạm tội. Bị cáo lợi dụng chủ sở hữu tài sản sơ hở trong việc quản lý tài sản đã nhanh chóng lén lút chiếm đoạt tài sản. Hµnh vi ph¹m téi cña bÞ cáo là nguy hiểm cho xã hội kh«ng nh÷ng ®· x©m ph¹m ®Õn trËt tù trÞ an nãi chung mµ cßn x©m ph¹m ®Õn quyÒn së h÷u vÒ tµi s¶n cña công dân nói riêng, do ®ã cÇn ®­îc xö lý nghiªm minh.

[4] Trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Mặc dù bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nhưng với tính chất vụ án và trong quá trình chuẩn bị xét xử tuy bị cáo được tại ngoại nhưng không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án, gây khó khăn cho việc xét xử. Do đó việc cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian là cần thiết để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Mặt khác, trong quá trình xét xử, tuy bị cáo được tại ngoại nhưng không chấp hành theo quy định, gây khó khăn cho việc xét xử.

Tuy nhiên khi áp dụng hình phạt cần căn cứ điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo vì bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tại các cơ quan pháp luật bị cáo thành khẩn khai báo, đầu thú và người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Anh Hoàng Ngọc Q đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt đầy đủ và không có yêu cầu gì thêm nên công nhận.

[6] Về vật chứng: Đối với chiếc chìa khóa xe máy có dòng chữ “Honda” thu của bị cáo không còn giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy. Căn cứ khoản 1, điểm a,c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS năm 2015; khoản 1, điểm a,c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 BLTTHS. Điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326 của Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí tòa án.

3

Tuyên bố: Bị cáo Lâm Thanh H phạm tội “ Trộm cắp tài sản”

Xử phạt: Lâm Thanh H 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bắt tạm giam 19/9/2018 (nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 12/4/2018 đến 18/4/2018).

VÒ tr¸ch nhiÖm d©n sù: Công nhận bị hại là anh Hoàng Ngọc Q đã nhận tài sản và không có yêu cầu gì thêm.

Về vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 chiếc chìa khóa xe máy có dòng chữ “Honda” hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa theo biên bản giao nhận vật chứng số 167/THA ngày 18/7/2018.

Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST.

Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án đối với khoản tiền án phí theo quy định tại các điều 7 và điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự."

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc ngày niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM.

Cỡ chữ