- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh Hùng và đồng phạm - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung…"
- Tòa quyết gì? Căn c điểm a, i khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017)); khoản 2 Điều 136, Điều 331, 332, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban th…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 237/2023/HS-ST Ngày: 26/5/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Phước T
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn C
Ông Lê Lương T
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Quang Minh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân T – Kiểm sát viên
Trong ngày 26 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 33/2023/TLST-HS ngày 18 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số: 105/2023/QĐ-HPT ngày 30 tháng 3 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 145/2023/QĐ-HPT ngày 28 tháng 4 năm 2023 đối với các bị cáo:
1) Họ và tên: Nguyễn Thanh H, sinh năm: 1989; tại Đồng Nai.
Nơi cư trú: tổ 5, khu phố Long Khánh 1, phường Tam Phước, TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không: Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Ngọc Thạch, sinh năm 1956 và bà Trần Thị Thu, sinh năm 1967; Vợ: Phạm Thị Mỹ Hạnh, sinh năm 1988; Có 03 con (Lớn nhất sinh năm 2010 – Nhỏ nhất sinh năm 2020); Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).
2) Họ và tên: Trần Văn T, sinh năm: 1985; tại Đồng Nai.
Nơi cư trú: tổ 5, khu phố Long Khánh 1, phường Tam Phước, TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không: Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Văn An, sinh năm 1929 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Liên, sinh năm 1939 (đã chết); Vợ: Dương Thị Kim Yến, sinh năm 1992; Có 01 con sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).
+ Bị hại: Anh Lương Văn M, sinh năm 1986.
Địa chỉ: tổ 8, khu phố Long Khánh 1, phường Tam Phước, TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. (Anh Mạnh có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 23/02/2021 tại khu vực chợ tự phát bên lề đường Dương Diên Nghệ thuộc tổ 5, khu phố Long Khánh 1, phường Tam Phước, TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, bà Trần Thị Thu và chị Triệu Thị Thu (đều là người buôn bán rau) phát sinh mâu thu n cãi nhau. T sự việc này, chị Thu điện thoại cho chồng là anh Lương Văn Mạnh báo công an đến giải quyết sự việc.
Sau đó, anh Mạnh và anh Triệu Ngọc Quý (bạn anh Mạnh) đến ch chị Thu hỏi chuyện. C ng lúc này, Nguyễn Thanh H ng (con bà Thu) và Trần Văn Tiến (em bà Thu) nghe tiếng cãi nhau nên c ng chạy đến đ ng xem. Anh Mạnh nhặt 01 dao dài khoảng 20cm, lư i rộng khoảng 03cm, cán g màu nâu (dao thái rau của chị Thu làm rơi) bỏ vào túi quần rồi đi đến gần ch bà Thu đ ng nhìn, chị Thu chạy theo anh Mạnh lấy lại dao cất đi. H ng, Tiến thấy vậy nên xông đến xô đẩy anh Mạnh. Lúc này, có 01 xe ô tô loại 04 ch màu trắng (không rõ biển số, nhãn hiệu) chạy đến d ng lại và có khoảng 03 đến 04 nam thanh niên trong xe (không rõ lai lịch) mở cửa xe bước xuống, anh Mạnh và anh Quý cho rằng nhóm người này đến đánh mình nên bỏ chạy. H ng và Tiến m i người nhặt 01 gậy g c ng dài khoảng 150cm, đường kính khoảng 03cm ở ven đường cầm đuổi theo anh Mạnh. Anh Mạnh chạy đến đoạn đường hẻm thuộc tổ 4, khu phố Long Khánh 1, phường Tam Phước thì H ng đuổi kịp, H ng d ng gậy g đánh 01 cái trúng cẳng tay trái anh Mạnh gây thương tích làm anh Mạnh ngã xuống đường. Tiếp đó, Tiến và H ng d ng gậy g đánh nhiều cái trúng lưng, hông trái, hai bên đ i anh Mạnh (không để lại thương tích ở lưng, hai bên đ i) và H ng d ng chân phải đá 02 cái trúng mạn sườn trái anh Mạnh, gây thương tích. Sau đó, H ng và Tiến bỏ đi, anh Mạnh được anh Quý chở đi cấp c u tại Phòng khám đa khoa Thành Tâm rồi chuyển đến Bệnh viện đa khoa Đồng Nai điều trị thương tích.
+ Vật ch ng vụ án: 02 (hai) gậy g c ng dài khoảng 150cm, đường kính khoảng 03cm Nguyễn Thanh H ng và Trần Văn Tiến sử dụng gây án, Hùng và Tiến đã v t bỏ bên đường (không rõ địa điểm) nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.
Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 0249/TgT/2021 ngày 30/3/2021 của Giám định viên Trung tâm pháp y tỉnh Đồng Nai, kết luận thương tích của anh Lương Văn Mạnh như sau:
“Dấu hiệu chính qua giám định:
- Gãy 1/3 giữa hai xương cẳng tay trái đã kết hợp xương hiện can tốt, trục thẳng. (Áp dụng Chương 7, mục IV.5.2). Tỷ lệ 15%.
- Tổn thương màng phổi trái gây tràn dịch, tràn khí màng phổi trái đã được ph u thuật d n lưu hiện không để lại di ch ng. (Áp dụng Chương 3, mục III.1). Tỷ lệ 05%.
- Tổn thương gãy cung sau xương sườn số 8 bên trái hiện can tốt. (Áp dụng Chương 3, mục II.1). Tỷ lệ 02%.
- Tổn thương gãy cung sau xương sườn số 9 bên trái hiện can tốt. (Áp dụng Chương 3, mục II.1). Tỷ lệ 02%.
- Sẹo mổ mặt trong cẳng tay trái kích thước 09 x 0,2cm. (Áp dụng Chương 8, mục I.2). Tỷ lệ 02%.
- Sẹo mổ mặt trước ngoài kích thước 8,5 x 0,2cm. (Áp dụng Chương 8, mục I.2). Tỷ lệ 02%.
- Sẹo mổ d n lưu ngực bên bên trái kích thước 1,5 x 0,3cm. (Áp dụng Chương 8, mục I.1). Tỷ lệ 01%.
Căn c Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ trưởng Bộ Y tế Quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định Pháp y, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Lương Văn Mạnh áp dụng theo phương pháp cộng tại thông tư là 26% (Hai mươi sáu phần trăm).
Vật gây thương tích: Vật tày”.
+ Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo đã bồi thường cho anh Lương Văn Mạnh được số tiền 80.000.000 đồng (m i bị cáo bồi thường 40.000.000 đồng). Anh Mạnh không yêu cầu các bị cáo phải bồi thườn thêm.
Quá trình điều tra, anh Triệu Ngọc Quý, chị Triệu Thị Thu khai trong lúc Nguyễn Thanh H ng, Trần Văn Tiến và anh Lương Văn Mạnh xô đẩy nhau, có 01 xe ô tô loại 04 ch màu trắng (không rõ biển số, nhãn hiệu) đến, sau đó khoảng 03 đến 0nam thanh niên (không rõ lai lịch) trên xe ô tô bước xuống cầm theo dao tự chế, gậy sắt đuổi đánh anh Quý nhưng anh Quý bỏ chạy vào nhà dân gần đó nên không bị đánh. Sau đó anh Mạnh thay đổi lời khai: Không rõ nhóm người đi trên xe có đem theo hung khí hay không. Bà Trần Thị Thu, Nguyễn Thanh H ng và Trần Văn Tiến khai không liên quan gì đến nhóm người trong xe ô tô nêu trên.
Tại bản Cáo trạng số 48/CT-VKSBH-HS ngày 16/01/2023 của Viện kiểm Sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thanh H ng, Trần Văn Tiến về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phát biểu luận tội v n giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, i khoản 1; điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt:
+ Bị cáo Nguyễn Thanh H m c án t 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
+ Bị cáo Trần Văn T m c án t 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo đã bồi thường cho bị hại được số tiền 80.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu trong hồ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Biên Hòa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, các bị cáo không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Thanh H ng, Trần Văn Tiến đã khai nhận vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 23/02/2021, tại đường Dương Diên Nghệ thuộc tổ 5, khu phố Long Khánh 1, phường Tam Phước, TP. Biên Hòa các bị cáo đã có hành vi dùng gậy gổ c ng dài khoảng 150cm, đường kính khoảng 03cm và chân đánh trúng cẳng tay trái, hông trái của anh Lương Văn Mạnh gây thương tích.
Hậu quả anh Lương Văn Mạnh bị gãy 1/3 giữa hai xương cẳng tay trái đã kết hợp xương hiện can tốt, trục thẳng; tổn thương màng phổi trái gây tràn dịch, tràn khí màng phổi trái đã được ph u thuật d n lưu hiện không để lại di ch ng; tổn thương gãy cung sau xương sườn số 8 bên trái hiện can tốt; tổn thương gãy cung sau xương sườn số 9 bên trái hiện can tốt; sẹo mổ mặt trong cẳng tay trái kích thước 09 x 0,2cm; sẹo mổ mặt trước ngoài kích thước 8,5 x 0,2cm, sẹo mổ d n lưu ngực bên trái kích thước 1,5 x 0,3cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của anh Lương Văn Mạnh là 26%.
Lời khai nhận tội của các bị cáo ph hợp với lời khai của bị hại, người người làm ch ng c ng các tài liệu ch ng c khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo Nguyễn Thanh H ng, Trần Văn Tiến đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố và viện d n.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện thái độ xem thường pháp luật c ng chỉ vì mâu thu n nhỏ trong sinh hoạt hàng ngày mà các bị cáo đã có hành vi d ng gậy gổ được xác định là hung khí nguy hiểm đã trực tiếp xâm phạm đến tính mạng, s c khỏe của người khác là khách thể được pháp luật bảo vệ, thực tế các bị cáo đã gây thương tích cho anh Lương Văn Mạnh với tỷ lệ thương tật là 26% tạm thời; hành vi của các bị cáo không những gây ảnh hưởng đến cuộc sống của người bị hại mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội tại địa phương; các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội rất quyết liệt, có tính chất côn đồ thể hiện qua việc bị hại c ng không mâu thu n gì đối với các bị cáo. Qua đó, thể hiện các bị cáo là đối tượng liều lĩnh, có thái độ xem thường pháp luật và ý th c chấp hành pháp luật của bị cáo là rất kém. Do vậy, đối với các bị cáo cần có m c hình phạt nghiêm tương x ng với tính chất, m c độ hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra nhằm mục đích giáo dục cải tạo và răn đe phòng ng a tội phạm nói chung.
Xét vai trò, tính chất, m c độ hành vi phạm tội của t ng bị cáo: Xét thấy đây là vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn do xuất phát t sự mâu thu n giữa bà Trần Thị Thu (mẹ bị cáo H ng) và chị Triệu Thị Thu (vợ anh Mạnh) cãi vã nhau; sau đó d n đến việc các bị cáo đã có hành vi d ng gậy gổ c ng dài khoảng 150cm, đường kính khoảng 03cm đuổi đánh khi bị hại bỏ chạy; bị cáo Hùng là người chủ động, thực hiện hành vi tích cực khi đuổi kịp đã d ng gậy gổ đánh 01 cái trúng cẳng tay trái gây thương tích chính làm cho bị hại ngã xuống đường, sau đó bị cáo c ng bị cáo Tiến tiếp tục d ng gậy gổ đánh nhiều cái vào lưng, hông trái, bị cáo Hùng còn d ng chân đá 02 cái trúng vào mạn sường trái của bị hại nên bị cáo Hùng phải chịu trách nhiệm chính đối với thương tích của bị hại; đối với bị cáo Tiến c ng là người thực hành tích cực khi bị hại té ngã bị báo c ng xông vào dùng gậy gổ đánh nhiều cái vào người bị hại gây thương tích nên hành vi của bị cáo Tiến phải chịu trách nhiệm chung c ng bị cáo Hùng đối với thương tích của bị hại là 26%. Với tính chất, m c độ hành vi phạm tội của mình nên Hội đồng xét xử có cân nhắc, xem xét vai trò của bị cáo Hùng là cao hơn so với bị cáo Tiến khi quyết định m c hình phạt.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, chưa có tiền án tiền sự; đều là lao động chính trong gia đình, có hoàn cảnh khó khăn, trình độ học vấn thấp nên nhận th c pháp luật còn hạn chế, đã bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại được số tiền 80.000.000 đồng (m i bị cáo 40.000.000 đồng) và được bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử có xem xét giảm nhẹ một phần m c hình phạt cho các bị cáo.
Quá trình điều tra làm rõ bà Trần Thị Thu không rủ, xúi giục, kích động các bị cáo đánh anh Lương Văn Mạnh. Do đó không có căn c xem xét xử lý bà Thu.
Đối với sự việc nhóm nam thanh niên (không rõ lai lịch) cầm theo dao tự chế, gậy sắt, đi xe ô tô loại 04 ch màu trắng (không rõ biển số, nhãn hiệu) đến hiện trường vụ án, tài liệu điều tra chưa đủ căn c xác định nhóm người này đồng phạm với các bị cáo. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an TP. Biên Hòa tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Lương Văn Mạnh không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thêm nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Về xử lý vật ch ng: Đối với 02 (hai) gậy g c ng dài khoảng 150cm, đường kính khoảng 03cm do các bị cáo sử dụng làm hung khí gây án đã v t bỏ bên đường (không rõ địa điểm). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP. Biên Hòa không thu giữ được.
Về án phí: Căn c khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, các bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn c điểm a, i khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017)); khoản 2 Điều 136, Điều 331, 332, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về m c thu, giảm, miễn, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thanh H ng, Trần Văn Tiến phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt:
+ Bị cáo Nguyễn Thanh H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn t tính t ngày bị cáo vào trại giam chấp hành án.
+ Bị cáo Trần Văn T 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn t tính t ngày bị cáo vào trại giam chấp hành án.
2. Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Thanh H, Trần Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án, các bị cáo, được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật. Riêng bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể t ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai - VKSND TP. Biên Hòa; - Công an TP. Biên Hòa; - Cơ quan Thi hành án hình sự TP. Biên Hòa; - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai; - Cơ quan Thi hành án dân sự TP. Biên Hòa; - Các bị cáo; Bị hại (3); - Lưu hồ sơ, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Phước Tiến |