vanban.org

Bản án 237/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 24/11/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phan Thanh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Phan Thanh H: 07 (bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại thi hành án. Trừ cho bị cáo thời gian bị tạm giữ từ ngày 11/9/2023 đến ngày 20/9/2023. 2/ Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Thanh Hoài - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Thanh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG THÀNH
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 237/2023/HS–ST
Ngày: 24/11/2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI

– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán–Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thùy Trang.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Văn Ba.

2/ Bà Nguyễn Thị Thanh.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung–Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Đức Xuân Thương–Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 239/2023/TLST–HS, ngày 27 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 250/2023/QĐXXST–HS ngày 10 tháng 11 năm 2023 đối với:

Bị cáo: Phan Thanh H, sinh năm 1993 tại tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu; Nơi đăng ký thường trú: Thôn Việt Cường, xã Cù Bị, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan Thạnh, sinh năm 1972 và bà Phạm Thị Sự, sinh năm 1971; Vợ: Nguyễn Thị Cẩm Nhung, sinh năm 1995 (đã ly hôn), con: Có 02 con chung, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2016;

Tiền án: Ngày 17/02/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong ngày 06/9/2023.

Tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giữ từ ngày 11/9/2023, đến ngày 20/9/2023 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ cho tại ngoại.

Bị cáo tại ngoại (có mặt).

– Bị hại: Chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1998 (có mặt).

Địa chỉ thường trú: Ấp 4, xã Tân Hiệp, huyện Long Thành, Đồng Nai.

Địa chỉ: Ấp 8, xã Bàu Cạn, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phan Thanh H là người có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”. Vào khoảng 20 giờ ngày 10/9/2023, H điều khiển xe mô tô Yamaha Sirius biển số 72F1– 430.83 đến nhậu tại nhà bạn ở ấp 7, xã Phước Bình, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Đến 20 giờ 30 phút cùng ngày, H đi về. Trên đường về, H đi ngang qua nhà chị Nguyễn Thị C ở ấp 8, xã Bàu Cạn, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, H thấy trong nhà không có người trông coi nên H nảy sinh ý định trộm tài sản. H để xe phía bên hông nhà và leo tường rào vào nhà của chị C. Do cửa bên hông nhà không khóa nên H mở cửa vào nhà tìm tài sản, H đi vào phòng ngủ, mở cửa tủ quần áo thấy có 01 bóp da màu nâu, bên trong có 02 tờ tiền đô la Mỹ mệnh giá 02 USD, 02 tờ tiền đô la Mỹ mệnh giá 01 USD nên H lấy bỏ vào túi quần phía sau bên trái của mình. Sau khi lấy tài sản, do nhậu đã say nên H nằm ngủ trên võng bên hông nhà của chị C. Đến khoảng 21 giờ 00 phút cùng ngày, chị C đi về phát hiện H đang ngủ trong nhà nên trình báo Công an xã Bàu Cạn bắt giữ H cùng vật chứng (bút lục số 14–19).

Tại bản kết luận định giá tài sản số 351/KL–HĐĐGTS ngày 14/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS huyện Long Thành kết luận: 02 tờ tiền đô la Mỹ mệnh giá 02 USD, 02 tờ tiền đô la Mỹ mệnh giá 01 USD và 01 bóp da màu nâu đậm (đã qua sử dụng) trị giá 164.832 đồng (bút lục 37–39, 55–62).

Vật chứng vụ án: 02 tờ tiền đô la Mỹ mệnh giá 02 USD, 02 tờ tiền đô la Mỹ mệnh giá 01 USD, 01 bóp da màu nâu đậm, xe mô tô Yamaha Sirius biển số 72F1–430.83 (đã qua sử dụng).

Trước Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành, bị cáo Phan Thanh H đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai bị hại cùng các tài liệu đã thu thập được tại hồ sơ vụ án.

Bản Cáo trạng số 217/CT–VKS.LT ngày 24 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành truy tố bị cáo Phan Thanh H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố bị cáo Phan Thanh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo H: Từ 07 tháng tù đến 08 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Cơ quan điều tra đã thu hồi và trả lại cho bị hại xong.

Về vật chứng vụ án:

– 02 tờ tiền đô la Mỹ mệnh giá 02 USD, 02 tờ tiền đô la Mỹ mệnh giá 01 USD, 01 bóp da màu nâu đậm đã trả lại bị hại (bút lục 94).

– Xe mô tô Yamaha Sirius biển số 72F1–430.83 do Phan Thị Cẩm Tiên (em của bị cáo H) là chủ sở hữu, chị Tiên không biết H mượn xe làm phương tiện phạm tội nên cơ quan điều tra đã trả lại chị Tiên (bút lục 95).

Tại phiên tòa, bị cáo H đã ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bị cáo và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo có điều kiện trở thành người tốt cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Long Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo: Lời khai của bị cáo phù hợp với kết luận của Cơ quan điều tra, Cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của bị hại, những người tham gia tố tụng khác, cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy:

Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại, bị cáo lén lút, lợi dụng sơ hở, mất cảnh giác của bị hại để trộm cắp tài sản. Tài sản bị cáo trộm cắp gồm: 02 tờ tiền đô la Mỹ mệnh giá 02 USD, 02 tờ tiền đô la Mỹ mệnh giá 01 USD, 01 bóp da màu nâu đậm, có trị giá là 164.832 đồng. Lần phạm tội này của bị cáo có trị giá dưới 2000.000 đồng, nhưng bị cáo đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là hoàn toàn có cơ sở, đúng pháp luật, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng hành vi, mức độ phạm tội của bị cáo.

Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, xét cũng đủ tác dụng giáo dục, phòng ngừa tội phạm.

Trong vụ án này, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Đối với đề nghị của Viện kiểm sát về việc tuyên bố bị cáo Phan Thanh H phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và đề nghị xử phạt bị cáo từ 07 tháng tù đến 08 tháng tù. Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Cơ quan điều tra đã thu hồi và trả lại cho bị hại xong. Tại phiên tòa, bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xét.

Về vật chứng vụ án:

– 02 tờ tiền đô la Mỹ mệnh giá 02 USD, 02 tờ tiền đô la Mỹ mệnh giá 01 USD, 01 bóp da màu nâu đậm đã trả lại bị hại (bút lục 94).

– Xe mô tô Yamaha Sirius biển số 72F1–430.83 do Phan Thị Cẩm T (em của bị cáo H) là chủ sở hữu, chị Tiên không biết H mượn xe làm phương tiện phạm tội nên cơ quan điều tra đã trả lại chị Tiên (bút lục 95).

Về án phí: Buộc bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 327, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm b khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố bị cáo Phan Thanh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Phan Thanh H: 07 (bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại thi hành án. Trừ cho bị cáo thời gian bị tạm giữ từ ngày 11/9/2023 đến ngày 20/9/2023.

2/ Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Phan Thanh H nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3/ Theo luật định, bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ