vanban.org

Bản án 237/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Cẩm V và anh Võ Thanh L.

Về nuôi con chung: Giao 03 cháu Võ Nguyễn Trọng T, sinh ngày 17/12/2012; Võ Nguyễn Gia Ph, sinh ngày 13/10/ 2015 và Võ Nguyễn Gia H, sinh ngày 01/01/2022 cho chị Nguyễn Thị Cẩm V trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận tự nguyện của chị V không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, người không tr…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị Cẩm V ly hôn, tranh chấp nuôi con với anh Võ Thanh L"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Cẩm V và anh Võ Thanh L.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ HOÀI NHƠN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 237/2023/HNGĐ-ST
Ngày 26-6-2023
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Bích.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phan Á

2. Ông Huỳnh Văn Cường

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tư - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn tham gia phiên tòa: Ông Trương Văn Đình - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 697/2022/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2022, về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 111A/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên toà số: 606A/2023/QĐST-DS ngày 29/5/2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Cẩm V, sinh năm 1991

Địa chỉ: Khu phố Thạnh Xuân Đ, phường Hoài H, thị xã Hoài Nh, tỉnh B.

2. Bị đơn: Anh Võ Thanh L, sinh năm 1986

Địa chỉ: Khu phố Thạnh Xuân Đ, phường Hoài H, thị xã Hoài Nh, tỉnh B.

(Nguyên đơn có mặt; bị đơn vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị Cẩm Vân trình bày:

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Cẩm V và anh Võ Thanh L tự nguyện đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hoài H, huyện Hoài Nh, tỉnh B (nay là phường Hoài H, thị xã Hoài Nh) vào ngày 23 tháng 10 năm 2013. Trong quá trình chung sống, vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, anh L không có trách nhiệm với gia đình nên từ đó tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt, hôn nhân không hạnh phúc, hiện nay chị và anh L không còn chung sống với nhau. Nay, chị V xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Võ Thanh L.

Về nuôi con chung: Vợ chồng có 03 con chung tên Võ Nguyễn Trọng T, sinh ngày 17/12/2012; Võ Nguyễn Gia Ph, sinh ngày 13/10/2015 và Võ Nguyễn Gia H, sinh ngày 01/01/2022. Hiện nay các con đang ở với chị V, do đó, chị V yêu cầu được nuôi 03 con chung và không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về phía bị đơn anh Võ Thanh L, Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh L theo quy định của pháp luật nhưng anh L luôn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, không có tài liệu, chứng cứ, lời khai của bị đơn. Tòa án căn cứ vào tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và các căn cứ của pháp luật để xem xét giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án phù hợp với quy định của pháp luật. Tuy nhiên, về thời hạn chuẩn bị xét xử đã vi phạm quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

- Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng. Bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt lần hai tại phiên tòa không có lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt là đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án:

Căn cứ vào Điều 39 Bộ luật dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82,83,84 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Cẩm V được ly hôn anh Võ Thanh L.

+ Về nuôi con chung: Giao 03 cháu Võ Nguyễn Trọng T, sinh ngày 17/12/2012; Võ Nguyễn Gia Ph, sinh ngày 13/10/2015 và Võ Nguyễn Gia H, sinh ngày 01/01/2022 cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng.

+ Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị V không yêu cầu anh Lắm cấp dưỡng nuôi con.

+ Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Chị V phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án dân sự được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào trình bày của đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhận định:

Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị Cẩm V yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn giải quyết việc hôn nhân và gia đình của chị; bị đơn anh Võ Thanh L cư trú tại khu phố Thạnh Xuân Đ, phường Hoài H, thị xã Hoài Nh, tỉnh B. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành thông báo và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Lắm nhưng anh L vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn tiến hành xét xử vắng mặt anh L.

Xét yêu cầu của đương sự:

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Cẩm V và anh Võ Thanh L tự nguyện tìm hiểu nhau và đi đến hôn nhân có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hoài H, huyện Hoài Nh (nay là phường Hoài H, thị xã Hoài Nh), tỉnh B theo Giấy chứng nhận kết hôn số 121, quyển số 01/2013 ngày 23/10/2013. Căn cứ vào Luật hôn nhân và gia đình nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, chị V cho rằng nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên cải nhau, anh L không có trách nhiệm với gia đình nên tình cảm ngày càng rạn nứt, mâu thuẫn không thể hàn gắn được, hiện nay chị và anh L không còn chung sống với nhau. Chị V yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh L để ổn định cuộc sống. Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Lắm theo quy định pháp luật nhưng anh L luôn vắng mặt, từ diễn biến trên chứng tỏ anh L đã bỏ mặc quan hệ hôn nhân của mình và không có biện pháp để hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Hội đồng xét xử xét thấy, tình trạng mâu thuẫn giữa chị V và anh L đã đến mức trầm trọng không thể hàn gắn được, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc chị V yêu cầu được ly hôn với anh L là có căn cứ và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.

Về yêu cầu nuôi con chung: Chị V và anh L có 03 con chung tên Võ Nguyễn Trọng T, sinh ngày 17/12/2012; Võ Nguyễn Gia Ph, sinh ngày 13/10/2015 và Võ Nguyễn Gia H, sinh ngày 01/01/2022. Ly hôn, chị V yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, chị V có việc làm, thu nhập ổn định; cháu T, cháu Ph và cháu H còn nhỏ và đang ở ổn định với chị Vân. Đồng thời, cháu Tín, Phong có nguyện vọng được ở với mẹ khi cha mẹ ly hôn. Do vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của các cháu nên cần giao cháu T, Ph, H cho chị Vân trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình. Ghi nhận tự nguyện của chị Vân không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Vân không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Chị V phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 57, 58, 81, 82, 83, 84, của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Cẩm V và anh Võ Thanh L.

2. Về nuôi con chung: Giao 03 cháu Võ Nguyễn Trọng T, sinh ngày 17/12/2012; Võ Nguyễn Gia Ph, sinh ngày 13/10/ 2015 và Võ Nguyễn Gia H, sinh ngày 01/01/2022 cho chị Nguyễn Thị Cẩm V trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận tự nguyện của chị V không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng theo quy định của pháp luật

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Chị Nguyễn Thị Cẩm V phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) sung công quỹ Nhà nước, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm chị V đã nộp theo biên lai thu số 0000328 ngày 14 tháng 11 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hoài Nhơn.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc được tống đạt hợp lệ để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại các Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ