vanban.org

Bản án 237/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 20/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trần Giang P. phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Xử phạt bị cáo Nguyễn Trần Giang P. 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 14/4/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THUẬN AN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 237/2021/HS-ST
Ngày: 20 – 9 – 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Quang Ngọc Nhân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phạm Nguyễn Phương Thà;

2. Bà Lê Thị Kim Ngân.

- Thư ký phiên toà: Bà Thái Thị Yến - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 232/2021/HSST ngày 09 tháng 7 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 300/2021/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 8 năm 2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Trần Giang P., sinh năm 1994 tại tỉnh Đắk Lắk; nơi thường trú: đường T, phường C, thành phố M, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tô G., sinh năm 1972 và bà Trần Thị Thanh M., sinh năm 1977; bị cáo có chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/4/2021 cho đến nay, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

Bị hại: Lê Minh Nh., sinh năm 1994; nơi cư trú: KDC P 1, phường H, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

Người làm chứng:

- Phạm Văn C.. Vắng mặt.

- Võ Thanh T. Vắng mặt.

- Nguyễn Văn H. Vắng mặt.

- Huỳnh Trường Đ. Vắng mặt.

- Võ Ngọc S. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Trần Giang P. là nhân viên kỹ thuật bộ phận đồng sơn của Công ty TNHH MTV TH tại địa chỉ khu phố H, phường G, thành phố A. Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 27/11/2019, ông Lê Minh Nh. bàn giao 01 xe ô tô hiệu Mazda CX5 biển số 48A-083.54 cho tài xế Phạm Văn C. tới cơ sở Mazda Bình Dương để bảo dưỡng. Quá trình tiếp nhận và sửa xe Nguyễn Trần Giang P. đã nảy sinh ý định chiếm đoạt thiết bị định vị GPS tích hợp sạc pin dự phòng hiệu e.Saver này trên xe của ông Nh để sử dụng. Thực hiện ý định, Phong lén lút lấy trộm bỏ vào tủ đồ cá nhân, đến ngày 30/11/2019 ông Nh tiếp nhận lại xe thì phát hiện mất bộ định vị này, sau đó ông Nh đến trung tâm Mazda Bình Dương để làm rõ sự việc và trình báo sự việc tới cơ quan công an, quá trình điều tra Nguyễn Trần Giang P. thừa nhận toàn bộ hành vi của mình. Ngoài 01 thiết bị định vị GPS tích hợp sạc pin dự phòng hiệu e.Saver bị chiếm đoạt như đã nêu trên, ông Nh trình báo còn bị mất 01 chiếc cặp xách bằng da màu nâu, bên trong đựng một số giấy tờ chứng nhận quyền sử dụng đất.

Vật chứng thu giữ: 01 thiết bị định vị GPS tích hợp pin sạc dự phòng hiệu e.Saver.

Kết luận định giá tài sản ngày 08/01/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Thuận An kết luận: 01 thiết bị định vị GPS tích hợp pin sạc dự phòng hiệu e.Saver có giá trị 8.800.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số: 242/CT-VKS-TA ngày 08/7/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Trần Giang P. về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Trần Giang P. mức hình phạt từ 08 (tám) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù.

+ Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: 01 thiết bị định vị GPS tích hợp pin sạc dự phòng hiệu e.Saver trong quá trình điều tra xác định là tài sản của ông Lê Minh Nh. nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả tài sản lại cho ông Nh là phù hợp;

+ Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không đề cập.

- Bị cáo Nguyễn Trần Giang P. có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, theo nội dung của đơn yêu cầu xét xử vắng mặt bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung của Bản kết luận điều tra và Cáo trạng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Bị cáo, bị hại có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt vì ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, việc làm thủ tục trích xuất, di chuyển và đi lại khó khăn. Xét thấy, hiện tại tình hình dịch bệnh Covid-19 đang diễn biến rất phức tạp, số ca dương tính có xu hướng gia tăng từng ngày, việc bị cáo, bị hại có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt là tự nguyện, không bị ai ép buộc, yêu cầu này là phù hợp với tình hình thực tế và không gây trở ngại cho việc xét xử, phù hợp quy định tại Điều 290, Điều 292 của Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Lời khai nhận của bị cáo tại Cơ quan điều tra phù hợp các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, vật chứng thu giữ, lời khai của bị hại, do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 27/11/2019, tại Công ty TNHH MTV TH (Mazda Bình Dương) địa chỉ khu phố H, phường G, thành phố A, trong quá trình bảo dưỡng 01 xe ô tô hiệu Mazda CX5 biển số 48A-083.54, bị cáo Nguyễn Trần Giang P. đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại ông Lê Minh Nh. là 01 thiết bị định vị GPS tích hợp pin sạc dự phòng hiệu e.Saver trị giá 8.800.000 đồng, hành vi của bị cáo Phong sau đó bị phát hiện, bắt giữ.

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, bị cáo biết rõ hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì động cơ tham lam, tư lợi, lười lao động nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện, do đó cần có mức án nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục cũng như phòng ngừa chung cho xã hội.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội chưa gây thiệt hại đây là các tình tiết giảm nhẹ theo điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị xử phạt bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Đối với 01 thiết bị định vị GPS tích hợp pin sạc dự phòng hiệu e.Saver trong quá trình điều tra xác định là tài sản của ông Lê Minh Nh. nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả tài sản lại cho ông Nh là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với việc ông Nh trình báo ngoài thiết bị GPS thì còn bị mất 01 chiếc cặp xách bằng da màu nâu, bên trong đựng một số giấy tờ chứng nhận quyền sử dụng đất. Bị cáo Phong xác nhận không chiếm đoạt chiếc cặp xách này, cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ, tuy nhiên ngoài lời trình bày của ông Nh thì không còn chứng cứ nào khác để chứng minh nên không có căn cứ để xử lý.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 48 của Bộ luật Hình sự;

- Các Điều 106, 136, 290 và 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 – 12 – 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trần Giang P. phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trần Giang P. 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 14/4/2021.

2. Về án phí:

Bị cáo Nguyễn Trần Giang P. phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo, bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai./.

Cỡ chữ