- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Thùy Ng được ly hôn với ông Phan Văn Th.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 237/2021/HNGĐ-ST Ngày: 05/4/2021 V/v Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Nhã. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Năm. 2. Ông Hoàng Minh Đang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Dung - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Duyên - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 4 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 802/2020/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2020 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2021/QĐXXST – HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 34/2021/QĐST – HNGĐ ngày 22 tháng 3 năm 2021 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Thùy Ng, sinh năm 1980; địa chỉ: 290A/66D DBT, Phường M, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: Ông Phan Văn Th, sinh năm 1978; địa chỉ: 290A/66D DBT, Phường
M, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện cùng các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án nguyên đơn bà Phạm Thị Thùy Ng trình bày:
Bà và ông Phan Văn Th sống chung vào năm 2002 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T huyện GCĐ tỉnh TG. Mâu thuẫn gia đình xảy ra là do vợ chồng bất đồng về quan điểm, lối sống không phù hợp. Nay bà xin được ly hôn với ông Th.
Về con chung: Vợ chồng có hai con chung tên Phan Thị Kiều D sinh ngày 03/01/2002 và Phan Anh T sinh ngày 24/6/2005. Con chung Phan Thị Kiều D đã trưởng thành. Bà sẽ là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung Phan Anh T, không yêu cầu ông Th cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chúng tôi sẽ tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: không có.
Đối với bị đơn ông Phan Văn Th: Tòa án đã tiến hành thông báo thụ lý vụ án và đã nhiều lần triệu tập hợp lệ ông Th đến Tòa án để giải quyết vụ án nhưng ông Th không đến, do đó không có lời khai của đương sự tại tòa.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; nguyên đơn chấp hành tốt pháp luật tố tụng khi tham gia tố tụng dân sự; bị đơn chấp hành chưa tốt pháp luật tố tụng khi tham gia tố tụng dân sự. Về phần nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Xét đơn khởi kiện của bà Phạm Thị Thùy Ng thì đây là vụ án tranh chấp về ly hôn; do bị đơn cư trú tại Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, nên theo qui định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
Xét bà Phạm Thị Thùy Ng có đề nghị không tiến hành hòa giải nên căn cứ vào Điều 207, Điều 208 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được, Thẩm phán tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ mà không tiến hành hòa giải.
[3] Xét nguyên đơn bà Phạm Thị Thùy Ng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt và bị đơn ông Phan Văn Th đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa, nên căn cứ vào khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ.
Xét việc bà Phạm Thị Thùy Ng và ông Phan Văn Th chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện GCĐ, tỉnh TG, theo giấy chứng nhận kết hôn số 10 đăng ký ngày 11/3/2002 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu của bà Ng xin được ly hôn với ông Th do bà Ng không còn tình cảm với ông Th, cuộc sống chung vợ chồng không có hạnh phúc, không có tình nghĩa vợ chồng, đời sống chung không thể kéo dài và hai bên đã tự sống ly thân, bỏ mặc nhau, không còn yêu thương nhau, không giúp đỡ để cùng nhau phát triển. Mặc khác, Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông Th nhiều lần đến Tòa để làm rõ tình trạng hôn nhân giữa ông Th với bà Ng nhưng ông Th không đến. Chứng tỏ ông Th thiếu thiện chí để hòa giải những mâu thuẫn giữa vợ chồng, không xem trọng cuộc sống chung vợ chồng. Do đó, yêu cầu ly hôn của bà Ng là có căn cứ phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét về con chung: Quá trình chung sống bà Ng và ông Th có hai con chung tên Phan Thị Kiều D sinh ngày 03/01/2002 và Phan Anh T sinh ngày 24/6/2005. Con chung Phan Thị Kiều D đã trưởng thành. Bà Ng yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Phan Anh T, không yêu cầu ông Th cấp dưỡng nuôi con; yêu cầu này phù hợp với thực tế, đảm bảo quyền lợi cho con trẻ. Vì vậy, căn cứ vào Điều 58 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử quyết định giao con chung tên Phan Anh T cho bà Ng trực tiếp nuôi dưỡng, ông Th được tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho đến khi bà Ng có yêu cầu.
Xét về tài sản chung và nợ chung: Tài sản chung đương sự xác định sẽ tự thỏa thuận và nợ chung đương sự xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Ng phải chịu án phí theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 56 và Điều 58 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Thùy Ng được ly hôn với ông Phan Văn Th.
2. Về con chung: Bà Ng xác định vợ chồng có hai con chung tên Phan Thị Kiều D sinh ngày 03/01/2002 và Phan Anh T sinh ngày 24/6/2005. Con chung Phan Thị Kiều D đã trưởng thành. Bà Phạm Thị Thùy Ng trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Phan Anh T. Ông Th được tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho đến khi bà Ng có yêu cầu.
Ông Th có quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản.
Vì lợi ích của trẻ, theo yêu cầu của cha, mẹ, người thân thích, cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em hoặc Hội liên hiệp phụ nữ, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung đương sự xác định sẽ tự thỏa thuận và nợ chung đương sự xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét..
4. Án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) bà Ng phải chịu nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0044319 ngày 30/9/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8. Bà Ng đã thi hành xong phần án phí dân sự sơ thẩm.
5. Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
6. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND Quận 8; - Chi cục THADS Quận 8; - Các đương sự; - Lưu: VP, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tuấn Nhã |