- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Văn T - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Ngô Văn T phạm tội Vận chuyển trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 41 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 237/2017/HSST Ngày 13-9-2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Vũ Linh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Thu Vân.
2. Bà Bùi Thị Thúy Lan.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Mai, Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Hải, Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Văn phòng khu phố N1, phƣờng A, thị xã K, Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm lƣu động công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 258/2017/HSST ngày 24 tháng 8 năm 2017, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 251/2017/HSST-QĐ ngày 01/9/2017 đối với bị cáo:
Ngô Văn T, sinh năm 1989 tại Thành phố Hồ Chí Minh; thƣờng trú: Khu phố 3, phƣờng K, Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Khu phố 5, phƣờng Đ, quận Đ, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Giặt ủi quần áo; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Ngô Văn T (đã chết) và con bà Nguyễn Thị Kim A, sinh năm 1968; bị cáo có 02 em ruột, lớn sinh năm 1990, nhỏ sinh năm 2003; có vợ Châu Thị T, sinh năm 1991 và có 02 con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 17/4/2013 Tòa án nhân dân Thành phố T, tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, ngày 30/9/2013 chấp hành xong hình phạt tù; bị cáo bị bắt tạm giam ngày 26/5/2017, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Văn C, sinh năm 1994; thƣờng trú: Khu phố 6, phƣờng Đ, quận Đ, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.
- Người làm chứng: 1. Ông Nguyễn Đức T, sinh năm 1989; thƣờng trú: Tổ 6 khu phố 7, thị trấn T, huyện L, tỉnh Bình Thuận; chỗ ở: Phòng số 3 nhà trọ không số, khu phố T, phƣờng H, thị xã A, tỉnh Bình Dƣơng, vắng mặt.
2. Ông Trịnh Văn B, sinh năm 1995; thƣờng trú: Xã B, huyện B, tỉnh Bắc Ninh; chỗ ở: Phòng số 1 nhà trọ không số, khu phố T, phƣờng H, thị xã K, tỉnh Bình Dƣơng, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Bị cáo Ngô Văn T sử dụng ma túy (Methamphetamine) từ tháng 6/2016, khoảng 18 giờ ngày 26/5/2017 bị cáo T điều khiển xe mô tô biển số 51X4-5881 đến gặp ngƣời phụ nữ tên T1 (không rõ nhân thân) ở khu vực cầu Bình Lợi, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh mua 4.500.000đồng ma túy, sau đó bỏ ma túy vào túi áo và điều khiển xe đi đến khu phố T, phƣờng H, thị xã K gặp bạn để sử dụng ma túy thì bị Công an thị xã Dĩ An lập biên bản bắt ngƣời có hành vi phạm tội quả tang.
Vật chứng thu giữ: 01 túi nylong miệng kéo dính bên trong có hai gói nylong hàn kín chứa chất tinh thể màu trắng; 01 gói nylon hàn kín bên trong chứa chất tinh thể màu trắng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Boss màu nho biển số 51X4-5881.
Kết luận giám định số 272/MT-PC54 ngày 31/5/2017 phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận: Chất tinh thể màu trắng thu giữ từ Ngô Văn T có Methamphetamine tổng trọng lƣợng 9,7733gam, hàm lƣợng Methamphetamine 69,05% tƣơng đƣơng 6,7485gam.
Cáo trạng số 252/QĐ/KSĐT ngày 23/8/2017, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Ngô Văn T về tội Vận chuyển trái phép chất ma túy theo Khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã nêu, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo T, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 194; Điểm p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo T từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
Về vật chứng của vụ án đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo pháp luật.
Trƣớc khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo T nói lời sau cùng: Bị cáo biết việc mình làm là vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức án thấp nhất cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo Ngô Văn T khai nhận sử dụng ma túy từ thời gian tháng 6/2016. Ngày 26/5/2017 bị cáo điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Boss, biển số 51X4-5881 đi mua 4.500.000đồng ma túy của ngƣời phụ nữ tên T1 trên đƣờng về thì bị lập biên bản bắt ngƣời có hành vi phạm tội quả tang, qua giám định chất tinh thể màu trắng thu giữ từ bị cáo T có hàm lƣợng Methamphetamine 6,7485gam. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục II, STT 67, Nghị định 82 ngày 19/7/2013 của Chính phủ.
Tại Điều 194 Bộ lu t Hình s năm 1999, s a đ i b sung năm 2009 quy đ nh:
1. Người nào tàng trữ, v n chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy, thì b phạt tù từ hai năm đến bảy năm.
Nhƣ vậy, với việc vận chuyển ma túy (6,7485gam Methamphetamine). Hành vi trên của bị cáo Ngô Văn T là hành vi của tội Vận chuyển trái phép chất ma túy đƣợc quy định tại Khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự. Bản cáo trạng số 252/QĐ-KSĐT ngày 23/8/2017 của Viện kiểm sát thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo cũng nhƣ bản luận tội của Kiểm sát viên ngày hôm nay đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Bị cáo Ngô Văn T là ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo thực hiện phạm tội một cách cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hƣởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phƣơng, nhất là trong tình hình hiện nay hành vi mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy, tệ nạn nghiện ma túy xảy ra nhiều có diễn biến phức tạp, đây cũng là nguyên nhân dẫn đến tội phạm hình sự gia tăng. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo T mức án tù có thời hạn tƣơng xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành ngƣời công dân có ích cho gia đình, xã hội cũng nhƣ có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo T không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tình tiết trên đƣợc quy định tại Điểm p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo T có nhân thân xấu thể hiện việc bị cáo sử dụng ma túy, bị cáo đã bị xử phạt tù về tội Trộm cắp tài sản, sau khi chấp hành hình phạt tù về địa phƣơng bị cáo tiếp tục sử dụng ma túy, thể hiện sự không hƣớng thiện của bản thân cũng nhƣ việc chấp hành pháp luật của bị cáo.
Về vật chứng: Qua điều tra thu giữ ma túy còn lại sau giám định của bị cáo T, cần tịch thu tiêu hủy. Đối với xe mô tô nhãn hiệu Boss màu nho biển số 51X4-5881 là tài sản hợp pháp của ông Lê Văn C cầm cho bị cáo T. Xe trên đã thu hồi trả lại ông C. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với ngƣời tên T1 bán ma túy cho bị cáo T. Công an thị xã Dĩ An tách xác minh xử lý sau là đúng quy định pháp luật.
Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng đƣa ra tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, mức hình phạt đối với bị cáo T cũng nhƣ việc xử lý vật chứng trong vụ án. Quan điểm trên phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử do vậy đƣợc chấp nhận.
Án phí sơ thẩm: Bị cáo T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Ngô Văn T phạm tội Vận chuyển trái phép chất ma túy.
Áp dụng Khoản 1 Điều 194; Điểm p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009.
Xử phạt bị cáo Ngô Văn T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/5/2017.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 74, Điểm a Khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy : 01 bì thƣ đã niêm phong số 272/PC54 chứa tinh thể màu trắng Methamphetamine, trọng lƣợng sau giám định (M1) 9,0279 gam và (M2) 0,1337gam. Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 22/8/2017.
3. Về án phí: Áp dụng Khoản 1, 2 Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14.
Bị cáo Ngô Văn T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết.
| Nơi nhận: - Bị cáo (01); - Ngƣời tham gia tố tụng (01) - VKSND thị xã Dĩ An (01); - Công an thị xã Dĩ An (01); - Trại giam CA tỉnh Bình Dƣơng (01); - Chi cục THADS thị xã Dĩ An (01); - TAND tỉnh Bình Dƣơng (01); - Sở tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng (01); - UBND nơi bị cáo cƣ trú (01); - Phòng PV 27 CA tỉnh Bình Dƣơng (01); - Phòng PC 81 CA tỉnh Bình Dƣơng (01); - Lƣu: VT,HSVA (02). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Vũ Linh |