- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đình N - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Thị H.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 139 Bộ luật Hình sự; Điều 267 Bộ luật Hình sự
| TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 501/2025/HS-PT Ngày 30 tháng 9 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Thanh Dũng
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Văn Minh
Ông Phan Nhựt Bình
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Phú Cường - Thư ký Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Công T - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 160/2025/TLPT-HS ngày 20 tháng 8 năm 2025 đối với bị cáo Đỗ Thị H; Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 351/2025/HS-ST ngày 10 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị cáo kháng cáo:
Đỗ Thị H, sinh năm 1975 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: 1 Đ, Phường C, quận B (nay là phường G), Thành phố Hồ Chí Minh; tạm trú: 5 Đ, Phường A, quận G (nay là Phường A), Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: môi giới nhà đất; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Hữu Đ và bà Nguyễn Thị N; có chồng (đã ly hôn) và 03 con, con nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: tại bản án số 229/2008/HSST ngày 21/8/2008 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xử phạt 11 tháng 24 ngày tù về tội “Chứa mại dâm”, được trả tự do tại Tòa, đã thi hành xong án phí dân sự sơ thẩm; bị tạm giam từ ngày 21/5/2019 đến ngày 06/6/2019 được thay thế biện pháp ngăn chặn từ tạm giam sang cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo tại ngoại (có mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo theo yêu cầu: Luật sư Lâm Thanh T1, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo do Tòa án chỉ định: Luật sư Nguyễn Thị B, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt)
(Trong vụ án, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, Tòa án không triệu tập đến phiên tòa phúc thẩm)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tháng 02/2017 và tháng 7/2017, ông Hồ Văn H1 nhận chuyển nhượng hai thửa đất số 735 (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD662823) và số 575 (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC145098), tờ bản đồ số 12 thuộc xã T, huyện H từ ông Lê Ngọc B1 và được Văn phòng đăng ký đất đai huyện H cập nhật chủ quyền tại trang bổ sung giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tháng 9/2017, ông H1 cần bán 02 thửa đất trên nên đã đưa bản chính 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là GCNQSDĐ) và giấy tờ có liên quan cho ông Trần Phong S để nhờ bán giúp. Sau đó, ông S nói cho ông Trần Đức H2 biết và nhờ ông H2 cùng tìm người mua.
Đến giữa tháng 10/2017, ông S gặp Đỗ Thị H đưa hai GCNQSDĐ cùng giấy tờ liên quan cho H xem và nhờ tìm người bán với giá của 02 thửa là 2.500.000.000 đồng. H đem hai hồ sơ này đi phôtô rồi trả lại bản chính cho ông S và cho biết sẽ trả lời sau. Hai ngày sau, H gọi điện cho ông S nói đồng ý mua 02 thửa đất trên với số tiền là 2.300.000.000 đồng thì ông S đồng ý bán, nhưng H phải đặt cọc trước cho ông S số tiền là 500.000.000 đồng. Ngày hôm sau, H gặp ông S tại đường P, Quận A (không rõ địa chỉ cụ thể) để đưa trước số tiền 50.000.000 đồng, hẹn hai ngày sau sẽ đưa thêm 250.000.000 đồng rồi làm giấy biên nhận đặt cọc.
Ngày 25/10/2017, H và ông S gặp nhau, ông S dẫn H đến nhà ông Trần Đức H2 (do ông H1 giao cho ông S và ông H2 toàn quyền bán 02 thửa đất trên, khi mua bán xong thi ông H1 sẽ ký sang tên). Tại đây, H giao cho ông H2 số tiền 150.000.000 đồng và hai bên làm giấy đặt cọc số tiền 200.000.000 đồng có sự chứng kiến của ông S. Hường thỏa thuận với ông H2 15 ngày sau sẽ đưa tiếp số tiền 300.000.000 đồng và thời hạn thanh toán hết số tiền mua 02 thửa đất (735, 575) là 02 tháng.
Thời gian này, H rao bán 02 thửa đất trên với số tiền là 2.500.000.000 đồng để kiếm lời nhưng không có người mua, vì vậy Hường này sinh ý định làm giả 02 GCNQSDĐ đem cầm cố lấy tiền tiêu xài và trả nợ. H gọi điện cho ông S nói tìm được người khác mua nên mượn lại 02 GCNQSDĐ bản chính trên. Sau đó, H liên hệ hẹn gặp một người tên T2 (không rõ lai lịch) để thỏa thuận giao dịch làm giả 02 GCNQSDĐ có nội dung giống 02 GCNQSDĐ của ông H1.
Ngày 06/11/2017, H gặp T2 tại quán cà phê trên đường P, quận G để đưa 02 GCNQSDĐ cho T2 xem. Thúc nhận lời làm giả 02 giấy trên với giá là 65.000.000 đồng thì H đồng ý và yêu cầu T2 làm thêm giấy ủy quyền cho H toàn quyền chuyển nhượng 02 thửa đất, rồi H đưa 02 GCNQSDĐ cho T2 dùng điện thoại chụp lại.
Ngày 07/11/2017, H và T2 gặp nhau tại quán cà phê trên đường P, quận G. Tại đây, T2 đưa cho H 01 GCNQSDĐ số ACI45098, kèm theo trang bổ sung GCNQSDĐ và 01 GCNQSDĐ số - AD662823, kèm theo trang bổ sung của GCNQSDĐ. Sau đó, cả hai đến Văn phòng C, tại số D T, Phường A, Quận C, T2 nhờ người đóng giả ông Hồ Văn H1 để ký Hợp đồng ủy quyền số 007026/HĐUQ và 007027/HĐUQ cho Đỗ Thị H được toàn quyền chuyển nhượng, thế chấp 02 thửa đất số 735, 575 của ông H1. Sau khi hoàn thành hợp đồng ủy quyền, T2 giao cho H 02 GCNQSDĐ giả số AC145098 và AD662823 kèm theo các trang bổ sung của mỗi giấy và H trả công cho T2 số tiền 65.000.000 đồng.
Sau khi có được giấy tờ giả, H tráo đưa 02 GCNQSDĐ giả cho ông S, H giữ lại 02 bản chính (hồ sơ thật). Sau đó, H đến gặp ông Hoàng Việt B2 đưa 02 GCNQSDĐ, 02 hợp đồng ủy quyền số 007026/HĐUQ và 007027/HDUQ nhờ ông B2 nhận thế chấp 02 thửa đất 735, 575 để vay số tiền 1.500.000.000 đồng. Tại đây, ông B2 cho biết sẽ cho H vay trước số tiền 1.000.000.000 đồng, với lãi suất 5%/tháng để giải quyết công việc và hẹn sẽ kiếm người nhận thể chấp 02 thửa đất nêu trên.
Ngày 11/11/2017, H đến gặp ông B2 đưa 02 GCNQSDĐ (giấy thật nhưng trang cập nhật là giả) để làm tin và ông B2 giao cho H số tiền 1.000.000.000 đồng (Hường có viết giấy tay xác nhận nợ của ông B2 số tiền 1.000.000.000 đồng).
Ngày 12/11/2017, ông B2 đem hai hồ sơ trên đến gặp bà Nguyễn Thị Bích H3 hỏi có muốn nhận thế chấp 02 miếng đất này không. Bà H3 nói sẽ gặp H sau và giữ lại hai hồ sơ để đi kiểm tra đất.
Ngày 15/11/2017, H, ông B2 và bà H3 gặp nhau tại quán cà phê “L” gần nhà ông B2 thuộc Quận A. Tại đây, bà H3 thỏa thuận nhận thế chấp của H 02 miếng đất trên với số tiền là 1.500.000.000 đồng, lãi suất 5%/tháng, trong thời hạn 03 tháng. Tuy nhiên, việc vay phải thể hiện bằng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và con của bà H3 là chị Nguyễn Thị Phương T3 đứng tên trên hợp đồng chuyển nhượng.
Ngày 17/11/2017, H, ông B2, bà H3 và chị T3 đến Văn phòng C1 làm hợp đồng chuyển nhượng quyển sử dụng đất giữa H và chị T3 (trong hợp đồng chuyển nhượng chỉ để giá trị 02 thửa đất trên là 400.000.000 đồng). Do chị T3 đứng tên trên hợp đồng nhận chuyển nhượng 02 thửa đất trên với H nên bà H3 thỏa thuận với ông B2 viết giấy xác nhận bà H3 vay của ông B2 số tiền 1.000.000.000 đồng để cùng góp chung số tiền 1.500.000.000 đồng cho H vay. Do H đã nhận trước của ông B2 1.000.000.000 đồng nên bà H3 và chị T3 chỉ đưa cho H số tiền 425.000.0000 đồng, bà H3 trừ trước tiền lãi 1 tháng là 75.000.000 đồng (trong số tiền này, bà H3 đưa lại cho ông B2 50.000.000 đồng tiền lãi tương đương số tiền góp 1.000.000.000 đồng). Về phần H, sau khi lấy được số tiền 425.000.000 đồng của bà H3 đã trả nợ hết.
Mấy ngày sau, bà H3 gặp H cho biết ý định muốn chuyển quyền sở hữu 02 thửa đất cho chị T3 nhưng H không đồng ý thì bà H3 yêu cầu H hoàn trả lại tiền. H cho biết sẽ bán 02 thửa đất với giá 2.500.000.000 đồng để trả nợ nếu bà H3 đồng ý mua, nhưng bà H3 nói chỉ mua với số tiền 1.800.000.000 đồng, nếu H không bán thì phải hoàn trả ngay tiền số nợ nên H đồng ý bán. Bà H3 hẹn H buổi chiều cùng ngày lên nhà lấy thêm số tiền 300.000.000 đồng. Đến chiều cùng ngày, H lên nhà bà H3 gặp chị T3 và chị T3 đưa cho H số tiền 150.000.000 đồng, còn lại 150.000.000 đồng hẹn qua tuần sau đưa. Sau đó, chị T3 đưa 02 hồ sơ trên cho ông Nguyễn Đình V nhờ làm thủ tục sang tên và ông V đưa cho bà Phạm Thị Huyền N1 nhờ làm thủ tục sang tên.
Ngày 07/12/2017, bà N1 đem 02 hồ sơ trên đến Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H (viết tắt Chi nhánh VPDKĐĐ huyện H) để làm thủ tục sang tên cho chị T3 nhưng Chi nhánh VPĐKĐD huyện H chỉ nhận 01 hồ sơ số AD662823 của Thửa đất số 735; còn hồ sơ số AC145098 của Thửa đất số 575 do hồ sơ đo vẽ bị chênh lệch diện tích nên không nhận hồ sơ. Do vậy, bà N1 đem hồ sơ này về.
Ngày 21/12/2017, Chi nhánh VPĐKĐĐ huyện H phát hiện hồ sơ số AD662823 có dấu hiệu làm giả (giả hợp đồng ủy quyền, trang bổ sung giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) nên mời chị T3, ông H1, bà H3 đến và thông báo Công an xã T, huyện H đưa những người có liên quan về trụ sở làm việc. Sau đó, chị T3 phát hiện hồ sơ chị T3 đang giữ số AC145098 cũng bị H làm giả nên làm đơn tố cáo Đỗ Thị H gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H.
Ngày 10/3/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H chuyển hồ sơ vụ việc đến Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H để điều tra theo thẩm quyền.
Tại Cơ quan điều tra, Đỗ Thị H đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung trên nên Cơ quan điều tra ra Quyết định khởi tố vụ án và Quyết định khởi tố bị can đối với Đỗ Thị H, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo Điều 139 và Điều 267 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 để điều tra.
Ngày 28/7/2020, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tuyên phạt Đỗ Thị H 09 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 01 năm tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo điểm a khoản 4 Điều 139 và khoản 1 Điều 267 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 (Bản án hình sự sơ thẩm số 276/2020/HSST).
Sau đó, H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và tại phiên tòa phúc thẩm ngày 27/10/2021, H đề nghị Hội đồng xét xử xem xét số tiền 1.000.000.000 đồng là tiền ông Hoàng Việt B2 cho H vay, không phải H dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt. Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355, khoản 1 Điều 358 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tuyên hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 276/2020/HSST ngày 28/7/2020 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, để xác định số tiền Đỗ Thị H dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt trong vụ án.
Quá trình điều tra lại, bị can Đỗ Thị H khai nhận: Do có mối quan hệ quen biết và nhiều lần vay tiền của ông Hoàng Việt B2 nên số tiền 1.000.000.000 đồng là Hường vay của ông B2 có tính lãi suất. Việc H đưa 02 GCNQSDĐ cho ông B2 là để ông B2 tìm người thế chấp vay thêm và H chỉ chiếm đoạt số tiền 575.000.000 đồng của chị Nguyễn Thị Phương T3. Tuy nhiên, căn cứ các lời khai ban đầu của bị can H tại các bút lục từ số 140 đến 184 đều thừa nhận nhờ đối tượng Thúc làm giá 02 GCNQSDĐ số AC145098, AD662823 kèm theo trang bổ sung của 02 Thửa đất số 735, 575 đứng tên ông Hồ Văn H1 (chủ đất), sau đó H kêu T2 nhờ người đóng giả ông H1 để ký Hợp đồng ủy quyền số 007026/HDUQ và 007027/HĐUQ cho H được toàn quyền chuyển nhượng, thể chấp 02 thửa đất. Sau khi có được giấy tờ giả và hoàn thành việc ủy quyền, H đã tráo 02 GCNQSDĐ giả trên cho ông Trần Phong S (người được ông H2 nhờ bán đất giúp) để lấy 02 bản chính của Thửa đất số 735 và 575 (Hường giữ lại tờ giấy giả của trang cập nhật biến động), rồi đem thế chấp cho bà Nguyễn Thị Bích H3 và chị Nguyễn Thị Phương T3 để chiếm đoạt số tiền 1.575.000.000 đồng. Lời khai này phù hợp lời khai ban đầu của ông B2 và lời khai của bà H3, chị T3 về việc H có thế chấp giấy tờ 02 Thửa đất số 735, 575 đứng tên Hồ Văn H1 để thực nhận số tiền 1.575.000.000 đồng, trong đó nhận trực tiếp từ chị T3 và bà H3 số tiền 575.000.000 đồng và cấn trừ 1.000.000.000 đồng đã nhận trước đó từ ông B2 (Bút lục từ số 187 đến 204, 205 đến 213).
Đồng thời, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H còn phát hiện Đỗ Thị H có hành vi làm giả trang số 2 bản sao y Hợp đồng ủy quyền số 21990 ngày 16/11/2017 của Văn phòng C1, Thành phố Hồ Chí Minh giữa bà Bùi Lệ H4 với ông Nguyễn Văn H5 như sau:
Đỗ Thị H quen biết ông Nguyễn Văn H5 từ năm 2012. Vào tháng 10/2017, H mua căn nhà số E Đ, Phường A, quận G của bà Phạm Thị K với giá 4.200.000.000 đồng, nhưng để cho bà Bùi Lệ H4 - là người giúp việc của H đứng tên nhận chuyển nhượng và đăng bộ sang tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở (viết tắt là GCNQSDĐ). Ngày 13/11/2017, H yêu cầu bà H4 thế chấp nhà số E Đ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 (B3)
- Chi nhánh P để vay số tiền 3.000.000.000 đồng.
Ngày 16/11/2017, do cần tiền nên H hỏi vay của ông Nguyễn Văn H5 số tiền 500.000.000 đồng nhưng ông H5 yêu cầu phải có tài sản đảm bảo. Do đó, H yêu cầu bà H4 đến Văn phòng C1 ký hợp đồng ủy quyền cho ông H5 được “... đặt cọc, hủy hợp đồng đặt cọc, mua bán - chuyển nhượng, hủy hợp đồng mua bán - chuyển nhượng, tặng, cho, hủy hợp đồng tặng cho đối với quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất của bên bà H1 tại Thửa đất số 104, Tờ bản đồ số 174, địa chỉ 3 Đ, phường A, quận G, TP . Hồ Chí Minh ...”. Sau khi công chứng ủy quyền, ông H6 đưa 500.000.000 đồng cho H và giữ 02 bản gốc, bà H4 không giữ bản nào.
Sau đó, H đã thỏa thuận bán nhà số E Đ, Phường A, quận G cho bà Nguyễn Thị Bích T4, với giá 5.600.000.000 đồng nên H mượn giấy chứng minh nhân dân của bà Bùi Lệ H4 (không nhớ thời gian cụ thể) đến Văn phòng C1 xin trích lục bản Hợp đồng ủy quyền số 21990 ngày 16/11/2017 giữa bà Bùi Lệ H4 và ông Nguyễn Văn H5, để H làm giả tài liệu này bằng cách tẩy xóa, cắt bỏ bớt phần nội dung đồng đặt cọc, mua bán - chuyển nhượng, hủy hợp đồng mua bán
- chuyển nhượng, tặng, cho, hủy hợp đồng tặng cho đối với quyền sở tại trang 2 của bản trích lục hợp đồng ủy quyền trên, rồi thuê tiệm phô tô màu phô tô lại phần hình dấu đóng giáp lai trên trang số 2 để thay thế trang.
Ngày 19/3/2019, H đến Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 (B3) - Chi nhánh P giải chấp nhà số E Đ và ngày 21/9/2019, H sử dụng bản trích lục hợp đồng ủy quyền do H làm giả, cung cấp cho Văn phòng C2, tại địa chỉ G L, phường T, Quận A để công chứng hợp đồng bán căn nhà trên cho bà Nguyễn Thị Bích T4. Sau đó, ông Nguyễn Văn H5 phát hiện H đã chuyển nhượng nhà cho bà T4 mà không hoàn trả lại số tiền 500.000.000 đồng cho ông H5 nên ông H5 đã làm đơn tố giác Đỗ Thị H đến Cơ quan điều tra về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Bút lục từ số 577 đến 580).
Tuy nhiên, H khai nhận thế chấp căn nhà địa chỉ 5 Đ, Phường A, quận G cho ông Nguyễn Văn H5 để vay số tiền 500.000.000 đồng, lãi suất 0,5%/ngày, nhưng ông H5 yêu cầu phải ủy quyền cho ông H5 toàn quyền quyết định thửa đất trên để đảm bảo cho khoản vay nên H đồng ý và không có ý định bán nhà cho ông H5. Sau đó, H thuận bán nhà số E Đ cho bà Nguyễn Thị Bích T4 nhưng ông H5 không chịu đi hủy hợp đồng ủy quyền để H công chứng hợp đồng mua bán nhà với bà T4 lấy tiền trả nợ nên H nảy sinh ý định làm giả trích lục ủy quyền và không có ý định lừa đảo ông H5 chiếm đoạt số tiền 500.000.000 đồng. Lời khai này của H phù hợp với lời khai của bà Bùi Lệ H7, bà Nguyễn Thị Bích T4 và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ (Bút lục từ số 661 đền F, 666 đến 669, 702 đến 705, 711 đến 723).
Tại Bản giám định các số 224/KLGĐ-TT ngày 23/01/2018, 253/KLGĐ-TT ngày 25/01/2018 của Phòng K1 Công an Thành phố H kết luận:
- Đối với hai hợp đồng ủy quyền số 007026 và 007027 do Văn phòng C3:
Hình dấu tròn có nội dung “S.D.K.H.Đ: 41020050 * QUẬN C - TP . * VĂN PHÒNG C” và Chữ ký đứng tên Công chứng viên "Mai Ngọc T5 - trên Hợp đồng ủy quyền số 007026, 007027 là thật (Bút lục số 82).
- Đối với hai hồ sơ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
+ Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AD662823 và AC145098 do Chi nhánh VPĐKĐĐ Huyện H và bà Phạm Thị Huyền N1 giao nộp là giấy thật, phần trang bổ sung giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là giấy giả.
+ Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AD662823 và AC145098 do ông Hồ Văn H1 giao nộp là giấy giả, phần trang bổ sung giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là giấy thật (Bút lục số 85).
Tại Bản giám định số 344/KLGĐ-TT ngày 08/3/2019 của Phòng K1 Công an Thành phố H kết luận:
- Chữ viết họ tên Hồ Văn H1 trên hai hợp đồng ủy quyền số 007026, 007027 so với chữ viết họ tên Hồ Văn H1 trên các tài liệu mẫu so sánh không phải do cùng một người viết ra.
- Dấu vân tay có chữ ký, chữ viết họ tên Hồ Văn H1 trên hai hợp đồng ủy quyền số 007026, 007027 so với dấu vân tay ngón trỏ trái, trỏ phải của Hồ Văn H1 trên tài liệu mẫu so sánh không phải là dấu vân tay của cùng một người (Bút lục từ số 83 đến 84).
Tại Bản giám định số 1749/KLGD-TT ngày 28/9/2020 của Phòng K1 Công an Thành phố H kết luận về tài liệu bản sao hợp đồng ủy quyền ngày 16/11/2017 giữa bà Bùi Lệ H4 với ông Nguyễn Văn H5 được lưu tại Văn phòng C2 như sau:
+ Chữ ký đứng tên Nguyễn Hoàng V1 trên bản sao “Hợp đồng ủy quyền” số 21990 so với chữ ký của Nguyễn Hoàng V1 do cùng một người ký ra.
+ Hình dấu tròn có nội dung: “VĂN PHÒNG CÔNG CHỨNG QUẬN 12* S.Đ.K.H.Đ: 41020038-C.T.H.D * QUẬN 12 - TP . HỒ CHÍ MINH” được đóng dưới phần chứng nhận sao đúng bản chính trên bản sao “Hợp đồng ủy quyền” số 21990 so với hình dấu có cùng nội dung do cùng một con dấu đóng ra.
+ Hình dấu tròn có nội dung: “VĂN PHÒNG CÔNG CHỨNG QUẬN 12. S.D.K.H.Đ: 41020038-C.T.H.D * QUẬN 12 - TP . HỒ CHÍ MINH” được đóng giáp lai trên bản sao “Hợp đồng ủy quyền” số 21990 có phần hình dấu trên trang số 2 được làm giả bằng phương pháp in phun màu.
+ Nội dung trên bản sao “Hợp đồng ủy quyền” số 21990 so với nội dung trên “Hợp đồng ủy quyền” số 21990 đã bị chỉnh sửa, thay thể ở trang số 2 (Bút lục số 607).
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 351/2025/HS-ST ngày 10 tháng 7 năm 2025, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 139, khoản 1 Điều 267 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009; điểm b điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 55 và Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Căn cứ khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt bị cáo Đỗ Thị H 12 (mười hai) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 01 (một) năm tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
Tổng hợp hình phạt chung là 13 (mười ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt chấp hành án, được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 21/5/2019 đến ngày 06/6/2019.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 17/7/2025, bị cáo Đỗ Thị H có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Đỗ Thị H vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo thống nhất trình bày: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã hoàn trả toàn bộ tiền chiếm đoạt, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo là mẹ đơn thân, nuôi 3 con nhỏ, phạm tội khi có con nhỏ dưới 36 tháng tuổi. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản Điều 51 Bộ luật hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ để xử phạt bị cáo H 12 năm tù về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và 01 năm tù về tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức, tổng hợp hình phạt của 2 tội là 13 năm tù là đúng quy định. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ nào mới nên đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo Đỗ Thị H làm trong thời hạn luật định, hợp lệ về hình thức nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định:
Mặc dù không phải là chủ sở hữu của 02 thửa đất số 735, 575 thuộc tờ bản đồ số 12, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng do cần tiền trả nợ nên vào khoảng tháng 11/2017, Đỗ Thị H làm giả 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của 02 thửa đất nêu trên; đánh tráo giấy chứng nhận thật của ông Hồ Văn H1 (chủ đất); thuê người đóng giả ông H1 để ký hợp đồng ủy quyền cho H; sau đó, bị cáo đem thế chấp cho chị Nguyễn Thị Phương T3 (con của bà Nguyễn Thị Bích H3). Cụ thể các lần nhận tiền, thế chấp như sau: (1) Lần 1 thỏa thuận giao số tiền 1.500.000.000 đồng; tuy nhiên thực tế chuyển số tiền 1.000.000.000 đồng mà bị cáo H vay của ông Hoàng Việt B2 thành khoản vay của bà Nguyễn Thị Phương T3 (đại diện cho bà Nguyễn Thị Bích H3); bà T3 giao trực tiếp số tiền 425.000.000 đồng (do đã trừ tiền lãi vay 01 tháng 75.000.000 đồng, ông B2 nhận 50.000.000 đồng, bị hại nhận 25.000.000 đồng); như vậy, tổng số tiền bị cáo nhận của bị hại lần 1 được xác định là 1.425.000.000 đồng. (2) Lần 2: Giao số tiền 150.000.000 đồng. Tổng số tiền mà bị hại Nguyễn Thị Phương T3 (con của bà Nguyễn Thị Bích H3) nhận thế chấp để giao tiền, cấn trừ nợ cho bị cáo sau đó bị cáo chiếm đoạt được xác định là 1.575.000.000 đồng.
Ngoài ra, bị cáo H còn có hành vi tẩy xóa, cắt bỏ bớt phần nội dung tại trang số 2 của bản sao y Hợp đồng ủy quyền số 21990 ngày 16/11/2017 của Văn phòng C1 giữa bà Bùi Lệ H4 và ông Nguyễn Văn H5, để H cung cấp tài liệu trên cho Văn phòng C2 công chứng Hợp đồng bán căn nhà số E Đ, Phường A, quận G giữa bà H4 và bà Nguyễn Thị Bích T4.
Với hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Đỗ Thị H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự và tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 267 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, xâm phạm trật tự quản lý hành chính của Nhà nước, phần nào gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo phạm tội với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” (đối với tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”). Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét cho bị cáo đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường toàn bộ thiệt hại; được bị hại bãi nại và rút đơn tố cáo; thời điểm phạm tội đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi.
Trên cơ sở đánh giá tính chất hành vi phạm tội, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 12 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 01 năm tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” là phù hợp, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ đặc biệt mới nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Đỗ Thị H phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Thị H.
Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 351/2025/HS-ST ngày 10 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Tuyên bố bị cáo Đỗ Thị H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 01 (một) năm tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 139, khoản 1 Điều 267 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009; điểm b điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 55 và Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt bị cáo Đỗ Thị H 12 (mười hai) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 01 (một) năm tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
Tổng hợp hình phạt chung là 13 (mười ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án, được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 21/5/2019 đến ngày 06/6/2019.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bị cáo Đỗ Thị H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao (1); - VCTVKSXXPT tại TP.HCM (1); - TAND TP.HCM (2); - VKSND TP.HCM (1); - THADS TP.HCM (1); - Công an TP.HCM (1); - Bị cáo - Lưu.VP (5), HS(2). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thanh Dũng |