- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "Truong Thi My L voi Tran Thi Nu H"
- Tòa quyết gì? Căn c vào khoản 2 Điều 308; Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản số: 236/2025/DS-PT Ngày: 22 - 5 - 2025 V/v tranh chấp yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng QSD đất vô hiệu, giải quyết hậu quả của hợp đồng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Văn Nam.
Các Thẩm phán: bà Trần Thị Kim Sang; ông Hà Chí Quốc.
- Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Mỹ Hương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- i di n i n ki m t nh n d n t nh T Ninh tham gia phiên tòa: ông Bùi Quốc Việt – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 05 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 736/2024/TLPT-DS, ngày 25-11-2024 về việc “tranh chấp yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng QSD đất vô hiệu, giải quyết hậu quả của hợp đồng”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 276/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 06/2025/QĐ-PT ngày 03 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
Ngu ên đơn: Chị Trương Thị Mỹ L, sinh năm 1978; Địa chỉ: Ấp G, xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; (có mặt);
Ngư i đại diện theo pháp luật của chị L: ông Trần Quốc T, sinh năm 1982; Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh (theo h p đ ng ủy quyền số 005977 quyển số 10/2023TP/CC-SCC/HĐGD đư c l i công ch ng viên Văn phòng C ngày 02/10/2023); (có mặt);
đơn: Bà Trần Thị Nữ H, sinh năm 1963; địa chỉ: số D, khu phố F, phư ng T, thành phố B, tỉnh Đ ng Nai; (có mặt);
Ngư i bảo vệ quyền và l i ích h p pháp của bà H: ông Nguyễn Văn N – Công ty L3; Địa chỉ: 3 T, phư ng A, quận G, thành phố H Chí Minh; (có mặt);
Ngư i có qu n i ngh a v iên quan:
1. Anh Nguyễn Chí M, sinh năm 1979; Địa chỉ: Ấp G, xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; (có mặt);
2. Chị Lê Thị Thùy D, sinh năm 1994; Địa chỉ: Ấp N, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh; (vắng mặt);
3. Anh Nguyễn Đ c T1, sinh năm 1976; Địa chỉ: số A, ấp V, xã P (nay là phư ng P), thành phố B, tỉnh Đ ng Nai; (có mặt);
4. Ông Dương Thanh L1, sinh năm 1957; Địa chỉ: Ô, khu phố T, thị trấn G, tỉnh Tây Ninh; (vắng mặt);
5. Văn phòng C1; Địa chỉ: Số B, khu phố D, N, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh; (vắng mặt);
6. Anh Trần Khánh T2, sinh năm 1983; Địa chỉ: Ấp G, xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; (có mặt);
7. Chị Hà Thị Kim N1, sinh năm 1969; Địa chỉ: 1 tổ A, khu phố T, phư ng L, thành phố T, TP .; (có mặt);
- Ngư i àm ch ng: Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1987; Địa chỉ: 1, Tổ B, khu phố B, phư ng T, thành phố B, tỉnh Đ ng Nai; Tạm trú: 31A, đư ng D, tổ D, khu phố E, phư ng T, thành phố T, thành phố H Chí Minh; vắng mặt.
- Người kháng cáo: nguyên đơn bà Trần Thị Nữ H và ngư i có quyền l i nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Đ c T1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 21 tháng 5 năm 2024, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Trương Thị Mỹ L trình bày:
V ch ng chị L và anh T1 là chỗ quen biết, do cần vốn đầu tư nên nh anh T1 tìm ngư i vay. Ngày 07-04-2021, anh T1 giới thiệu chị D cho v ch ng chị L, thống nhất vay của chị D 6.500.000.000 đ ng. Hai bên có ký h p đ ng vay với nội dung thỏa thuận như sau:
“.... thời hạn cho vay: 06 tháng, kể từ ngày 07-04-2021
Lãi suất: theo thỏa thuận, trả hàng tháng
Tài sản đảm bảo: Bên B (bên vay) có làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bên vay (Bên A) thửa số 3, 6, 9, 12, 13, 16 tờ bản đồ số 58 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BC 520654 do UBND huyện G cấp ngày 26/01/2011 mang tên Trương Thị Mỹ L và anh Nguyễn Chí M
Mục đích để làm tin.
Tài sản đảm bảo: Bên A không được sang tên khi chưa hết thời hạn vay nếu bên B trả tiền trước thời hạn vay thì hai bên ra công chứng hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Nếu đến ngày cuối cùng của thời hạn vay mà bên B không trả tiền cho bên A, thì bên A có quyền sang tên sổ đỏ...”
Tuy nhiên, chị D yêu cầu anh M, chị L phải làm h p đ ng chuyển như ng quyền sử dụng đất cho chị Lê Thị Thùy D thửa đất số 3, 6, 9, 12, 13, 16 t bản đ số 58, diện tích 15.423,6m2, kèm theo giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất số BC 520654 do UBND huyện G cấp ngày 26-01-2011 nên anh M chị L đã đến Văn phòng C1 để ký h p đ ng chuyển như ng QSDĐ ngày 07-04-2021.
Do tình hình dịch Covid kéo dài số tiền lãi tính từ ngày 07-04-2021 đến ngày 24-01-2022 là 2.175.400.000 đ ng, v ch ng chị đã thanh toán cho anh T1 số tiền 100.000.000 đ ng, số tiền còn lại không có khả năng trả đúng theo yêu cầu của chị D, anh T1. V ch ng chị phải chuyển như ng phần đất tọa lạc ấp T, xã T, thành phố T, tỉnh Tây Ninh để trả lãi cho chị D. Lúc này chị D không đ ng ý cho chị L, anh M tiếp tục vay và yêu cầu chị trả số tiền gốc 6.500.000.000 đ ng. Chị có nói với anh T1 hiện tại không có khả năng trả tiền gốc cho chị D đư c nên nh anh T1 tiếp tục giới thiệu cho ngư i khác để vay tiền trả chị D. Vì vậy, anh T1 tiếp tục giới thiệu cho v ch ng chị bà Trần Thị Nữ H vay số tiền 6.500.000.000 đ ng để trả cho chị D.
Ngày 26-01-2022, v ch ng chị L cùng chị D thỏa thuận hủy h p đ ng chuyển như ng QSDĐ đối với thửa đất 3, 6, 9, 12, 13, 16, t bản đ số 58, diện tích 15.423,6m2, kèm theo giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất số BC 520654 do UBND huyện G cấp ngày 26-01-2021 đã đến văn phòng công ch ng Vương Văn T3 để ký h p đ ng chuyển như ng QSDĐ ngày 07-04-2021, số vào sổ 0008060, quyển số 01/2022. Đ ng th i anh T1 yêu cầu v ch ng chị L chuyển quyền sử dụng các thửa đất trên cho bà Trần Thị Nữ H. Do không có khả năng trả nên v ch ng chị L buộc phải ký h p đ ng chuyển như ng QSDĐ cho bà H và đư c văn phòng C1 ch ng thực ngày 26-01-2022. Mục đích ký h p đ ng để làm tin, nhằm đảm bảo cho h p đ ng vay tiền giữa v ch ng chị và bà H, còn đất và tài sản trên đất vẫn do v ch ng chị trực tiếp quản lý, sử dụng từ đó đến nay.
Ngày 27-8-2022, chị L có nhu cầu trả tiền và yêu cầu bà H sang tên lại cho v ch ng chị nhưng anh T1, bà H tính tiền lãi quá cao nên v ch ng chị không đ ng ý. Sau khi ký h p đ ng cho bà H thì v ch ng chị vẫn quản lý, sử dụng đất và tài sản trên đất. Ngoài ra bà còn thực hiện việc chuyển mục đích sử dụng đất. Hiện nay thủ tục gần xong chỉ còn đóng thuế sử dụng đất. Bà H đã chỉnh lý trang 4 sang tên cho bà H đ ng tên xong và đang có ý định chuyển như ng cho ngư i khác.
Số tiền lãi anh T1 yêu cầu v ch ng chị phải thanh toán tính từ ngày 27-01-2022 đến ngày 27-08-2022 là 2.559.500.000 đ ng. Như vậy, tổng số tiền phải trả cho bà H là 6.500.000.000 đ ng + 2.559.500.000 đ ng = 9.059.500.000 đ ng.
Ngoài khoản vay trên thì chị L anh M có vay của chị D anh T1 thông qua ngư i cháu trai tên là Trần Khánh T2 cụ thể như sau:
ối với khoản ti n 1:
Ngày 15-04-2021, Tại Văn phòng công ch ng Nguyễn Thị Đ1, cháu là anh Trần Khánh T2 có làm h p đ ng chuyển như ng QSDĐ để đảm bảo khoản vay 3.000.000.000 đ ng đối với các thửa đất:
1. Giấy ch ng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DA086035 vào sổ cấp giấy ch ng nhận số CS08156 do Sở tài nguyên và Môi trư ng tỉnh T cấp ngày 24-03-2021. Thửa số 295, t bản đ số 3, tọa lạc ấp T, xã T, thành phố T, tỉnh Tây Ninh.
2. Giấy ch ng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DA086036 vào sổ cấp giấy ch ng nhận số CS08157 do Sở tài nguyên và Môi trư ng tỉnh T cấp ngày 24-03-2021. Thửa số 290, t bản đ số 3, tọa lạc ấp T, xã T, thành phố T, tỉnh Tây Ninh.
3. Giấy ch ng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DA086037 vào sổ cấp giấy ch ng nhận số CS08158 do Sở tài nguyên và Môi trư ng tỉnh T cấp ngày 24-03-2021. Thửa số 291, t bản đ số 3, tọa lạc ấp T, xã T, thành phố T, tỉnh Tây Ninh.
4. Giấy ch ng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DA086038 vào sổ cấp giấy ch ng nhận số CS08159 do Sở tài nguyên và Môi trư ng tỉnh T cấp ngày 24-03-2021. Thửa số 292, t bản đ số 3, tọa lạc ấp T, xã T, thành phố T, tỉnh Tây Ninh.
5. Giấy ch ng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DA086039 vào sổ cấp giấy ch ng nhận số CS08160 do Sở tài nguyên và Môi trư ng tỉnh T cấp ngày 24-03-2021. Thửa số 287, t bản đ số 3, tọa lạc ấp T, xã T, thành phố T, tỉnh Tây Ninh.
6. Giấy ch ng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DA086040 vào sổ cấp giấy ch ng nhận số CS08161 do Sở tài nguyên và Môi trư ng tỉnh T cấp ngày 24-03-2021. Thửa số 288, t bản đ số 3, tọa lạc ấp T, xã T, thành phố T, tỉnh Tây Ninh.
7. Giấy ch ng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DA086041 vào sổ cấp giấy ch ng nhận số CS08162 do Sở tài nguyên và Môi trư ng tỉnh T cấp ngày 24-03-2021. Thửa số 289, t bản đ số 3, tọa lạc ấp T, xã T, thành phố T, tỉnh Tây Ninh.
8. Giấy ch ng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DA086034 vào sổ cấp giấy ch ng nhận số CS08155 do Sở tài nguyên và Môi trư ng tỉnh T cấp ngày 24-03-2021. Thửa số 294, t bản đ số 3, tọa lạc ấp T, xã T, thành phố T, tỉnh Tây Ninh.
Tất cả tài sản trên do anh T2, sinh năm 1983, CCCD xxxxxxxxxxxx do Bộ C2 cấp. Anh T2 là cháu ruột của chị L đ ng tên giùm do anh M, chị L đang sống ở TP HCM, đất này là đất nông nghiệp. Tiền mua tài sản là của v ch ng chị L. Qua l i giới thiệu của anh Đ, chị L cần tiền để trả số tiền mua đất còn n nên chị L đ ng ý vay anh T1, chị D 3.000.000.000 đ ng và làm h p đ ng chuyển như ng tài sản trên để đảm bảo h p đ ng vay tiền giữa anh T2 và chị D (đ ng tên giùm cho ngày 26/01/2022 tại Văn phòng C3), anh T1 yêu cầu chị L hủy h p đ ng chuyển như ng QSDĐ giữa anh T2 và chị D, sau đó sang cho bà Trần Thị Nữ H đúng số tiền 3.000.000.000 đ ng đã vay.
Đến ngày 27-07-2022, anh T1 yêu cầu thanh toán số tiền vay 3.000.000.000 đ ng trên cùng th i điểm với tiền lãi khoản vay 6.500.000.000 đ ng. Chị Hà Thị Kim N1 đã cho chị L vay để chuyển tài khoản bà H số tiền 4.700.000.000 đ ng và chị L có chuyển cho bà H số tiền 250.000.000 đ ng trước đó. Tổng cộng: 4.950.000.000 đ ng. Trong đó, trả tiền gốc 3.000.000.000 đ ng, tiền lãi 1.950.000.000 đ ng cho 2 khoản vay 3.000.000.000 đ ng và 6.500.000.000 đ ng trên. Bà H chuyển như ng quyền sử dụng đất cho chị N1 vào ngày 22-08-2022.
Tại phiên tòa sơ thẩm, chị L giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Yêu cầu Tòa án Tuyên bố h p đ ng chuyển như ng quyền sử dụng đất giữa v ch ng chị L, anh M và bà H đã đư c Văn phòng C1 ch ng thực ngày 26-01-2022, số công ch ng 000807, quyển số 01/2022.TP/CC-SCC/HDGD là vô hiệu. Về giải quyết hậu quả của H p đ ng: V ch ng chị L trả lại cho bà H số tiền 6.500.000.000 đ ng và tiền lãi theo quy định của pháp luật 10%/năm từ ngày 07-4-2021 đến ngày xét xử. Không đ ng ý yêu cầu phản tố của bà H.
* Theo bản tự khai quá trình giải quyết vụ án và lời trình bày tại phiên tòa của bị đơn bà Trần Thị Nữ H trình bày:
Bà quen biết anh T1 và anh Đ thông qua giao dịch môi giới bất động sản. Ngày 26-01-2022, anh T1 giới thiệu cho bà chuyển như ng phần diện tích đất của v ch ng chị Trương Thị Mỹ L và anh Nguyễn Chí M chuyển như ng cho bà các thửa đất số 3,6,9,12,16 t bản đ số 58, diện tích 15.423,6 m2 tọa lạc tại Ô, khu phố T, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh theo Giấy ch ng nhận số BC 520654 số vào sổ cấp giấy ch ng nhận: CH 00580 do Ủy ban nhân dân huyện G cấp 26-01-2011 theo H p đ ng chuyển như ng quyền sử dụng đất số công ch ng 000807 lập tại Văn phòng C1. Khi ký h p đ ng chuyển như ng QSDĐ thì chị D, v ch ng chị L và anh T1 thống nhất bà H s chuyển tiền vào tài khoản anh Nguyễn Đ c T1, bà đã thanh toán toàn bộ số tiền chuyển như ng 13.000.000.000 đ ng nhưng ghi trong h p đ ng chuyển như ng QSDĐ với 6.500.000.000 đ ng nhằm mục đích né thuế. Ngày 12-4-2022 Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện G chỉnh lý trang 4 sang tên cho bà trên giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất số BC 520654 số vào sổ cấp giấy ch ng nhận: CH 00580 do Ủy ban nhân dân huyện G cấp 26-01-2011 theo đúng quy định pháp luật. Ngày 02-12-2022 Ủy ban nhân dân huyện G ban hành quyết định số 5574/QĐ-UBND cho phép bà chuyển mục đích sử dụng đất tại 02 thửa đất số 03 và 96 (tách từ thửa số 6) t bản đ số 58 với diện tích là 2500m2 g m thửa 96 là 1.545m2 và thửa đất số 03 là 955m2. Ngày 10-10-2023 và 11-10-2023, bà đã nộp tiền sử dụng đất 870.000.000 đ ng và nộp lệ phí trước bạ số tiền 6.750.000 đ ng theo 2 Thông báo nộp thuế của Chi cục thuế khu vực G. Nên việc chuyển như ng quyền sử dụng đất giữa bà và v ch ng chị Trương Thị Mỹ L và anh Nguyễn Chí M đã hoàn thành từ ngày 12-4-2022 khi bà đư c Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện G đăng ký sang tên trên giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất số BC 520654 đúng khoản 3 điều 188 Luật đất đai 2013. Bà H không đ ng ý yêu cầu khởi kiện của chị L.
Đối với phần diện tích đất tại thành phố T: Ngày 26-01-2022, anh T2 hủy h p đ ng mua bán khu đất tại xã T, thành phố T với chị Lê Thị Thùy D do trước đó vào ngày 15/4/2021 anh T2 có chuyển như ng 08 thửa đất này cho chị D theo h p đ ng công ch ng số 1144 với giá mua là 3.000.000.000 đ ng, thực tế trong giao dịch này bà H mua đất của anh T1 với giá 4.300.000.000 đ ng, anh T2 chỉ là ngư i đ ng tên trên h p đ ng chuyển như ng lại đất trên giấy t cho chị L nên bà H thanh toán cho anh T1. Trư ng h p tương tự khi anh T1 thỏa thuận bán đất cho bà H tại thị trấn G thì anh T1 c ng yêu cầu chị L, anh M hủy h p đ ng chuyển như ng với chị D để v ch ng chị L ký h p đ ng bán đất cho bà H nhưng thực tế anh T1 mới là ngư i nhận số tiền chuyển như ng đất vì chị D trước đó đã mua đất theo h p đ ng chuyển như ng ngày 07-04-2021 giữa v ch ng chị L và chị D, anh T1 và đã thanh toán tiền đất cho chị L, anh M
Bà H đư c Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T-chi nhánh thành phố T cập nhật sang tên cho bà và đến ngày 22-8-2022 chuyển như ng 08 thửa đất tại thành phố T cho chị N1 với giá 5.000.000.000 đ ng. Chị L làm môi giới nên xin bà hoa h ng 50.000.000 đ ng, bà đ ng ý. Tiền đặt cọc mua đất chị N1 chuyển khoản cho chị L 300.000.000 đ ng trong tháng 7/2022. Ngày 22-7-2022, chị L chuyển khoản tiền cọc chị N1 cho bà 250.000.000 đ ng (trừ 50.000.000 đ ng tiền hoa h ng). Ngày 27-7-2022 chị N1 chuyển khoản cho bà 4.700.000.000 đ ng thể hiện r trên ủy nhiệm chi chị N1 “chuyển tiền mua 8 thửa đất số 288, 294, 295, 290, 292, 289, 287 tại ấp T, xã T, Tp .”
Phần chị L chuyển khoản cho bà 250.000.000 đ ng đó là tiền đặc cọc liên quan đến phần đất ở thành phố T. Không phải tiền trả lãi.
H p đ ng chuyển như ng đất tại T giữa bà với anh T2 là 4.200.000.000 đ ng, giao tiền cho anh T1 tiền mặt 2.000.000.000 đ ng, chuyển khoản 2.300.000.000 đ ng nhưng vẫn ghi giá 3.000.000.000 đ ng nhằm né thuế, sau đó bà chuyển như ng lại cho chị N1 giá 4.900.000.000 đ ng vẫn ghi giá 3.000.000.000 đ ng để né thuế.
Bà H không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị L.
Ngày 12-12-2023, bà Trần Thị Nữ H có làm đơn phản tố lý do: Ngày 01-12-2023 bà H phát hiện trên đất chị L và anh M lén cho xây dựng một căn nhà cấp 4, kết cấu tư ng gạch, cột gạch, mái tôn; diện tích 3m x 3,5m = 10,5m2. Chị L và anh M còn cho ngư i lạ vào chiếm nhà (nhà c có s n trên đất) và đất của bà. Nên bà đề nghị Tòa án cư ng chế chị L, anh M tháo d căn nhà cấp 4; kết cấu tư ng gạch, cột gạch, mái tôn; diện tích 3m x 3,5m trên khu đất thuộc giấy ch ng nhận QSDĐ số BC 520654 số vào sổ cấp giấy ch ng nhận: CH 00580 do UBND huyện G cấp 26-01-2011 để trả lại cho bà khi bản án có hiệu lực; Cư ng chế ngư i liên quan đang ở trên khuôn viên nhà đất tại giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất số BC BC 520654 số vào sổ cấp giấy ch ng nhận: CH 00580 để trả lại đất cho bà H khi bản án có hiệu lực pháp lực.
Ngày 25-6-2024, bà H có làm đơn phản tố bổ sung ngày 12-12-2023 (BL 253-255): có nội dung cư ng chế ông Dương Thanh L1 và đ đạc tư trang có tại căn nhà trên theo giấy ch ng nhận QSDĐ số BC 520654 số vào sổ GCN: CH 00580 để trả lại nhà đất cho bà.
* Theo bản tự khai quá trình giải quyết vụ án và lời trình bày tại phiên tòa của người có quyền, ngh a vụ liên quan anh Nguyễn Chí M:
Anh là ch ng của chị L, anh thống nhất l i trình bày của chị L. Không đ ng ý yêu cầu phản tố của bà H.
* Theo bản tự khai quá trình giải quyết vụ án của người có quyền, ngh a vụ liên quan chị Lê Thị Thùy D:
Chị D và anh Nguyễn Đ c T1 quen nhau, anh T1 hay nh chị đ ng tên giao dịch mua đất dùm. Ngày 07/4/2021, chị D, anh T1, anh Đ, đến gặp v ch ng anh M, chị L xem đất. Sau khi thỏa thuận thì anh T1 nh chị đ ng tên hộ. Anh M, chị L đ ng ý ký h p đ ng chuyển như ng đất cùng ngày 07-4-2021 tại Văn phòng C1 theo giá chuyển như ng cho chị D. Sau khi ký h p đ ng, anh T1 có chuyển tiền cho chị để chị chuyển cho chị L 1 t đ ng, số tiền còn lại anh T1 chuyển cho chị L. Chị xin xác nhận các khoản tiền mua đất do anh T1 chuyển thanh toán cho chị Trương Thị Mỹ L tại các thửa đất số 3, 6, 9, 12, 13, 16 t bản đ số 58 tọa lạc tại Ô, khu phố T, thị trấn G, huyện G là tiền của anh Nguyễn Đ c T1, chị chỉ là ngư i đ ng tên hộ cho anh T1. Đến tháng 01/2022 anh T1 yêu cầu chị về G để hủy h p đ ng chuyển như ng QSDĐ với v ch ng chị L để v ch ng chị L, anh M chuyển như ng đất lại cho bà H với giá 13.000.000.000 đ ng và thống nhất để anh T1 nhận tiền mua đất từ bà H.
Ch ng c chị D gởi đến Tòa án: Sao kê tài khoản Lê Thị Thùy D-TK1019623413 (BL 215-222): có chuyển 4 lần, tổng cộng 1 t cho chị L; Đơn xin vắng mặt tại phiên tòa ngày 29/5/2024 (BL 226).
* Theo bản tự khai quá trình giải quyết vụ án của người có quyền, ngh a vụ liên quan anh Nguyễn Đức T1:
Khoảng tháng 3/2021, anh T1 có biết chị L qua sự giới thiệu của ông Đ. Chị L có ngư i cháu ruột tên Trần Khánh T2.
Ngày 08/3/2021, chị L và anh Đ giới thiệu cho anh mua miếng đất của v ch ng chị L, anh M g m các thửa 3, 6, 9, 12, 13, 16 t bản đ số 58, diện tích 15.423,6m2 tọa lạc tại Ô, khu phố T, thị trấn G, giá mua 12.000.000.000 đ ng. Do anh chưa đủ tiền nên chị L có hỏi mư n tiền của anh để chị đặt cọc mảnh đất khác ở Tây Ninh, số tiền hỏi vay là 3.240.000.000 đ ng. Do ngày 08-3-2021 không đủ mặt hai v ch ng chị L, anh M để cùng ký h p đ ng vay nên chị L có nh cháu ruột tên là Trần Khánh T2 ký h p đ ng vay tiền tại Văn phòng C4, hai bên thỏa thuận lãi suất cho vay là 1%/tháng, th i hạn vay 2 tháng từ ngày 08-3-2021. Sau khi ký h p đ ng vay, anh rút số tài khoản 1006307560 của Ngân hàng S đưa cho anh T2 tiền mặt 1.740.000.000 đ ng. Đến ngày 09-3-2021, anh tiếp tục chuyển cho anh T2 5 lần với tổng số tiền 1.500.000.000 đ ng đủ tiền vay 3.240.000.000 đ ng.
Ngày 07-4-2021 anh T1 tiếp tục thanh toán tiền mặt cho chị Trương Thị Mỹ L 3.730.000.000 đ ng; đ ng th i chuyển khoản cho chị L 1.770.000.000 đ ng và chị D chuyển khoản thanh toán cho chị L 1.000.000.000 đ ng. Như vậy, ngày 07-4-2021 anh T1 và chị D trả cho chị L 6.500.000.000 đ ng. Do chưa thanh toán đủ tiền mua đất 12.000.000.000 đ ng nên chị L đề nghị đư c viết giấy vay tiền của anh 6.500.000.000 đ ng ngày 07-4-2021 đ ng th i với việc ký h p đ ng chuyển như ng quyền sử dụng đất tại thửa đất số 3, 6, 9, 12, 13, 16 t bản đ số 58 tại văn phòng C1 theo giá chuyển như ng 6.500.000.000 đ ng và để cho chị D, bạn anh đ ng tên h p đ ng chuyển như ng đất.
Ngày 15-4-2021 anh T1 và anh Đ đến Gò D1 tiếp tục đưa tiền mặt cho chị L số tiền 2.260.000.000 đ ng. Như vậy, tính đến ngày 15-4-2021 anh đã thanh toán đủ tiền đất cho v ch ng chị L, anh M tổng cộng 12.000.000.000 đ ng.
Tháng 01/2022, anh Đ và anh T1 giới thiệu bà H để mua lại khu đất trên với giá 13.000.000.000 đ ng nên ngày 26/01/2022 anh T1, chị D, anh Đ, bà H đến gặp anh M, chị L xem đất và thỏa thuận để anh M, chị L hủy h p đ ng chuyển như ng QSDĐ với chị D để v ch ng anh M, chị L ký lại h p đ ng chuyển như ng các thửa 3, 6, 9, 12, 16 t bản đ số 58, diện tích 15.423,6 m2 tọa lạc tại Ô, khu phố T, Thị trấn G, huyện G bán cho bà H. Sự việc chị L – anh M bán đất cho bà H đư c công ch ng tại Văn phòng C1 và thống nhất bà H s chuyển tiền mua đất cho anh T1 số tiền 13.000.000.000 đ ng bằng chuyển khoản để thu h i vốn, đã chuyển khoản đủ vào ngày 27-01-2022. Đề nghị Tòa án bác yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị Mỹ L khởi kiện bà H.
*Tài liệu, ch ng c thu thập anh T1 nộp Tòa án: Sổ phụ TK tiền gửi tên Nguyễn Đ c T1 ngân hàng S1 mã khách hàng 0105902980 từ ngày 01-01-2021 đến 28-02-2022 (BL 228-242); Đơn xin vắng mặt ngày 29-5-2024 (BL 247)
* Theo bản tự khai quá trình giải quyết vụ án và lời trình bày tại phiên tòa của người có quyền, ngh a vụ liên quan ông Dương Thanh L1:
Ông là anh rể của chị L và anh M, tháng 3/2017, chị L có nh ông giữ hộ và chăn nuôi tr ng trọt cho chị L trên các thửa đất 3, 6 (thửa mới 95, 96), 9, 12, 13, 16 t bản đ số 58, tọa lạc tại Ô, khu phố T, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Từ ngày ông đến đây cho đến khi có vụ kiện tranh chấp tài sản giữa v ch ng chị L và bà H thì không nghe nói có bán cho ai, không biết bà H là ai, không thấy bà H đến coi đất để mua bán, không có việc bà H yêu cầu ông giữ hộ đất như l i bà H trình bày. Hiện nay ông vẫn còn ở trên đất, thu hoạch cây dừa, cây cà na, cây m trôm. V ch ng chị L anh M không trả cho ông khoản tiền thuê trông giữa đất. Việc khởi kiện ông không có ý kiến gì. Ông thống nhất kết quả xem xét thẩm định và định giá, căn nhà trên đất là do của ông xây dựng. Ông yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.
* Theo bản tự khai quá trình giải quyết vụ án và lời trình bày tại phiên tòa của người có quyền, ngh a vụ liên quan chị Hà Thị Kim N1:
Chị N1 và chị L là chỗ quen biết. Ngày 22-7-2022 chị N1 chuyển trước cho chị L mư n số tiền 300.000.000 (ba trăm triệu) đ ng để thanh toán trước cho bà H, anh T1 để không phải mất 01 tháng tiền lãi. Chị L có chuyển cho bà H 250.000.000 đ ng có gửi tin nhắn chuyển khoản thành công cho chị.
Ngày 27-7-2022, chị N1 có chuyển khoản bà H số tiền 4.700.000.000 đ ng theo yêu cầu của chị L để lấy lại tài sản là 08 thửa đất tại ấp T, xã T, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Đất hiện nay chị L vẫn đang quản lý, sử dụng nhưng bà N1 đ ng tên quyền sử dụng đất. Tổng cộng, bà N1 cho v ch ng chị L vay là: 5.000.000.000 đ ng. Sau khi nhận tiền bà H đã ký h p đ ng chuyển như ng 08 thửa đất trên cho chị với số tiền 3.000.000.000 đ ng, đúng bằng số tiền chị L vay của anh T1 và bà H đối với tài sản này và 2.000.000.000 đ ng tiền lãi của 2 khoản vay 3.000.000.000 đ ng thế chấp đất tại thành phố T và đất tại G tiền gốc 6.500.000.000 đ ng.
Sau đó, v ch ng chị L tiếp tục hỏi mư n bà H tiền để trả khoản vay còn lại tại Ô, Khu phố T, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh nhưng anh T1, bà H tính tiền gốc và lãi là 11.000.000.000 đ ng nên chị có nói chị L xin giảm lãi thì chị mới giúp đư c nhưng chị L nói anh T1, bà H không đ ng ý và có ý định sang như ng cho ngư i khác. Số tiền chị cho chị L anh M, chị không yêu cầu giải quyết trong vụ án.
* Theo bản tự khai quá trình giải quyết vụ án và lời trình bày tại phiên tòa của người có quyền, ngh a vụ liên quan anh Trần Khánh T2:
Ngày 08-3-2021 anh T2 có đ ng tên sang như ng lại tài sản là 08 thửa đất tại ấp T, xã T, thành phố T, tỉnh Tây Ninh từ bà Nguyễn Hà Phương L2 giúp dì anh là chị Trương Thị Mỹ L và anh Nguyễn Chí M, do v ch ng đang sinh sống ở Thành phố H Chí Minh, tài sản mua là đất nông nghiệp nên chỉ đư c sang như ng cho ngư i có đất canh tác nông nghiệp ở địa phương.
Sau đó do cần thanh toán n khi mua đất, qua l i giới thiệu của ông Đ, anh T1 thì ngày 15-4-2021 chị L kêu anh làm giấy vay tiền của chị D (giới thiệu là bạn gái anh T1) và đại diện anh Nguyễn Đ c T1 cho anh vay 3.000.000.000 đ ng. Để đảm bảo việc cho vay thì anh T1 và chị D yêu cầu anh ký chuyển như ng 8 thửa đất tại ấp T, xã T, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Trước đó chị L, anh M có vay chị D số tiền 6.500.000.000 đ ng, anh T1 và chị D yêu cầu chị L, anh M ký h p đ ng chuyển như ng QSDĐ là mảnh vư n tại địa chỉ Ô, khu phố T, thị trấn G, huyện G để đảm bảo khoản vay này.
Ngày 26-01-2022, anh T1, chị D yêu cầu anh ký hủy H p đ ng chuyển như ng QSĐ ngày 15-4-2022 để chuyển sang ký h p đ ng chuyển như ng QSDĐ với bà Trần Thị Nữ H nhằm đảm bảo khoản vay 3.000.000.000 đ ng. Ngày 26-01-2022, anh T1, chị D yêu cầu chị L, anh M hủy h p đ ng chuyển như ng ngày 07-4-2021 để chuyển sang ký h p đ ng chuyển như ng quyền sử dụng đất với bà H để đảm bảo khoản vay 6.500.000.000 đ ng.
Đầu tháng 7/2022, bà H, anh T1 yêu cầu chị L thanh toán số tiền 5.000.000 đ ng (gốc 3.000.000.000 đ ng, lãi 2.000.000.000 đ ng cho cả hai khoản vay trên), nếu không thanh toán s bán tài sản cho ngư i khác. Sau đó, chị L, anh M có mư n chị N1 5.000.000.000 đ ng để trả 3.000.000.000 đ ng n gốc và lãi cả hai khoản vay là 2.000.000.000 đ ng vào ngày 27-7-2022.
* Theo bản tự khai quá trình giải quyết vụ án của người có quyền, ngh a vụ liên quan Văn phòng C1:
Văn bản trình bày ý kiến ngày 09-01-2024 (BL 167): Ngày 26-01-2022, anh Nguyễn Chí M, chị Trương Thị Mỹ L, bà Trần Thị Nữ H có đến Văn phòng C1 ký h p đ ng chuyển như ng quyền sử dụng đối với phần diện tích 15.423,6m2 tọa lạc tại Ô, khu phố T, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh g m các thửa đất 3, 6 (thửa mới 95, 96), 9, 12, 13, 16 t bản đ số 58 theo GCN QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BC 520654 do UBND huyện G cấp ngày 26-01-2011. Việc công ch ng thực hiện đúng quy trình công ch ng theo quy định pháp luật. Vì vậy, Văn phòng C1 không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị Mỹ L.
* Theo bản tự khai quá trình giải quyết vụ án và lời trình bày tại phiên tòa sơ thẩm của người làm chứng anh Nguyễn Văn Đ:
Xác nhận khi v ch ng chị L, anh M ký h p đ ng chuyển như ng quyền sử dụng đất cho bà H thì chị D, anh T1, v ch ng chị L thống nhất bà H s chuyển tiền mua đất cho anh T1 vì thực tế năm 2021 chị D đã hoàn tất việc mua đất chị L và đã thanh toán xong theo h p đ ng Công ch ng ngày 07-4-2022. Sau đó, bà H đã thanh toán chuyển tiền toàn bộ số tiền chuyển như ng quyền sử dụng đất 13.000.000.000 đ ng qua tài khoản anh Nguyễn Đ c T1.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 276/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh, đã quyết định:
Căn c các Điều 117, 122, 123, 500, 501, 502, 503 của Bộ luật dân sự; Điều 188 Luật Đất đai năm 2013; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thư ng vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị Mỹ L đối với bà Trần Thị Nữ H về việc “Yêu cầu tuyên bố H p đ ng chuyển như ng quyền sử dụng đất vô hiệu và giải quyết hậu quả của h p đ ng”.
Tuyên bố: h p đ ng chuyển như ng quyền sử dụng đất giữa chị Trương Thị Mỹ L và anh Nguyễn Chí M với bà Trần Thị Nữ H đối với phần diện tích đất 15.423,6m2, thuộc thửa số 3, 6, 9, 12, 13, 16 t bản đ số 58. Địa chỉ: Ô, khu phố T, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh số công ch ng 000807, quyển số 01/2022.TP/CC-SCC/HDGD lập ngày 26-01-2022 của Văn phòng C1 vào sổ công ch ng ngày 26-01-2022 là vô hiệu.
2. Giải quyết hậu quả của h p đ ng:
2.1. Buộc chị Trương Thị Mỹ L và anh Nguyễn Chí M có nghĩa vụ trả lại cho bà Trần Thị Nữ H số tiền gốc là: 6.500.000.000 (sáu t năm trăm triệu) đ ng.
2.2. Buộc chị Trương Thị Mỹ L và anh Nguyễn Chí M có nghĩa vụ trả lại cho bà Trần Thị Nữ H số tiền lãi: 2.265.205.479 đ ng.
2.3. Buộc chị Trương Thị Mỹ L và anh Nguyễn Chí M có nghĩa vụ trả lại cho bà H tiền thuế chuyển mục đích sử dụng đất: 870.000.000 đ ng, và nộp lệ phí trước bạ số tiền: 6.750.000 đ ng
Kể từ ngày bà H có đơn yêu cầu thi hành án, cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng anh M, chị L còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo m c lãi suất theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015.
2.4. Chị L, anh M đư c quyền tiếp tục quản lý, sử dụng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất đối với phần diện tích đất 15.423,6m2, thuộc thửa số 3, 6, 9, 12, 13, 16 t bản đ số 58. Địa chỉ: Ô, khu phố T, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh.
3. Chị L, anh M có quyền và nghĩa vụ đến cơ quan có thẩm quyền thực hiện thủ tục chỉnh lý biến động đất đai.
4. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Trần Thị Nữ H về việc: Đề nghị Tòa án cư ng chế chị L, anh M tháo d căn nhà cấp 4; kết cấu tư ng gạch, cột gạch, mái tôn; diện tích 3m x 3,5m trên khu đất thuộc giấy ch ng nhận QSDĐ số BC 520654 số vào sổ cấp giấy ch ng nhận: CH 00580 do UBND huyện G cấp 26-01-2011 để trả lại cho bà H khi bản án có hiệu lực; Cư ng chế ngư i liên quan đang ở trên khuôn viên nhà đất tại giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất số BC 520654 số vào sổ cấp giấy ch ng nhận: CH 00580 để trả lại đất cho bà H khi bản án có hiệu lực pháp lực.
5. Đối với khoản tiền bà H chuyển khoản cho anh T1 ngày 27-01-2022: là 13.000.000.000 đ ng chênh lệch 6.500.000.000 đ ng so với h p đ ng chuyển như ng quyền sử dụng đất công ch ng số công ch ng 000807, quyển số 01/2022.TP/CC-SCC/HDGD giữa v ch ng chị Trương Thị Mỹ L, anh Nguyễn Chí M với bà Trần Thị Nữ H đã đư c Văn phòng C1 vào sổ công ch ng ngày 26-01-2022 đối với phần đất 15.423,6m2 Địa chỉ: Ô, khu phố T, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh bị tuyên vô hiệu, đư c tách ra giải quyết vụ án khác khi các bên có yêu cầu.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 10/10/2024, bị đơn bà Trần Thị Nữ H kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 276/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh đề nghị Hội đ ng xét xử phúc thẩm xét xử lại theo hướng:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị Mỹ L về việc yêu cầu toà án tuyên bố h p đ ng chuyển như ng quyền sử dụng đất giữa v ch ng chị L và anh M với bà H là vô hiệu do không có căn c pháp luật.
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Trần Thị Nữ H buộc v ch ng chị Trương Thị Mỹ L và anh Nguyễn Chí M d bỏ căn nhà cấp 4 DT 10,5m2 trên đất để trả cho bà Nữ H quản lý sử dụng toàn bộ diện tích đất 15.423,6m2.
- Buộc ngư i có quyền l i nghĩa vụ liên quan ông Dương Thanh L1 phải r i khỏi khu đất và di d i đ đạc tư trang của ông L1 cùng những ngư i liên quan khác (nếu có) ra khỏi khu đất để trả lại đất cho bà Nữ H.
Ngày 31/10/2024, ngư i có quyền l i nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Đ c T1 kháng cáo Bản án dân sự sơ thẩm số 276/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh đề nghị Hội đ ng xét xử phúc thẩm xét xử lại theo hướng:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị Mỹ L về việc yêu cầu toà án tuyên bố h p đ ng chuyển như ng quyền sử dụng đất giữa v ch ng chị L và anh M với bà H là vô hiệu do không có căn c pháp luật.
- Xem xét quyền l i của anh T1 khi bản án sơ thẩm tuyên phần tiền chênh lệch 6,5 t đ ng anh nhận của bà H trong số 13 t đ ng để tách riêng thành vụ án khác là không đúng pháp luật.
- Xem xét đúng quan hệ giao dịch chuyển như ng quyền sử dụng đất giữa bà H với v ch ng chị L, anh M về các thửa đất số 3, 6, 12, 16 t bản đ số 58, diện tích 15.423,6m2, toạ lạc tại Ô, khu phố T, thị trấn G, huyện G không phải là quan hệ vay tiền.
Tại phiên toà phúc thẩm: bà Trần Thị Nữ H và anh Nguyễn Đ c T1 vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo của mình.
Chị Trương Thị Mỹ L và anh Nguyễn Chí M không đ ng ý với yêu cầu kháng cáo của bà Trần Thị Nữ H và anh Nguyễn Đ c T1.
Trong phần tranh luận:
Ngư i bảo vệ quyền và l i ích h p pháp của bà H ông Nguyễn Văn N trình bày đề nghị Hội đ ng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà H, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị L, chấp nhận yêu cầu phản tố của bà H vì ông cho rằng đây là h p đ ng chuyển như ng ch không phải h p đ ng vay như l i trình bày của phía nguyên đơn.
Bà Trần Thị Nữ H và anh Nguyễn Đ c T1 thống nhất với l i trình bày của ông N và không có ý kiến bổ sung.
Đại diện theo u quyền của chị L anh Trần Quốc T trình bày không đ ng ý với ý kiến của phía bị đơn đề nghị Hội đ ng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà H và anh T1 giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tại phiên toà phúc thẩm, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đ ng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đ ng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà H và anh T1, tuy nhiên trong phần giải quyết hậu quả của h p đ ng vô hiệu cần tuyên chị L và anh M trả lại cho bà H số tiền thuế mà bà H đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: ngày 30/9/2024 Toà án nhân dân huyện Gò Dầu tuyên án đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 276/2024/DS-ST ngày 30/9/2024, ngày 10/10/2024 bà Trần Thị Nữ H kháng cáo; ngư i có quyền l i nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Đ c T1 vắng mặt tại phiên toà, ngày 26/10/2024 anh T1 nhận đư c bản án, ngày 31/10/2024 anh T1 làm đơn kháng cáo, như vậy bà H và anh T1 đều kháng cáo trong th i hạn luật định nên đủ điều kiện xét xử phúc thẩm.
Nội dung vụ án: chị Trương Thị Mỹ L khởi kiện yêu cầu tuyên bố h p đ ng chuyển như ng quyền sử dụng đất giữa chị Trương Thị Mỹ L và anh Nguyễn Chí M với bà Trần Thị Nữ H đối với phần diện tích đất 15.423,6m2, thuộc thửa số 3, 6, 9, 12, 13, 16 t bản đ số 58. Địa chỉ: Ô, khu phố T, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh số công ch ng 000807, quyển số 01/2022.TP/CC-SCC/HDGD lập ngày 26-01-2022 của Văn phòng C1 vào sổ công ch ng ngày 26-01-2022 vô hiệu lý do chị L cho rằng đây là h p đ ng giả tạo che đậy h p đ ng vay tài sản.
Bà Trần Thị Nữ H và anh Nguyễn Đ c T1 không đ ng ý với yêu cầu khởi kiện của chị L; bà H có đơn phản tố đề nghị chị L và anh M giao cho bà H quyền sử dụng đất nói trên để bà H quản lý sử dụng.
Xét kháng cáo của bà Trần Thị Nữ H và anh Nguyễn Đ c T1 thấy rằng:
Chị L, anh M có vay tiền của anh T1 hai lần cụ thể th i gian:
Lần 1: ngày 07-4-2021, chị L vay 6.500.000.000 đ ng viết giấy tay nhận n và thế chấp phần đất tranh chấp trong giấy tay nhận n , sau đó chị L anh M phải thực hiện nghĩa vụ lập h p đ ng chuyển như ng quyền sử dụng đất cho chị D (bạn của anh T1). Anh T1 cho rằng chuyển như ng nhưng xin vay tiền là không có cơ sở, bởi l các bên có giao nhận tiền, chị L có chuyển khoản thanh toán n lãi cho anh T1 100.000.000 đ ng, do anh T1 cần chuyển giao vốn nên yêu cầu ký h p đ ng Hủy h p đ ng chuyển như ng quyền sử dụng đất với chị D và ký lại H p đ ng chuyển như ng quyền sử dụng đất với bà H trong ngày 26-01-2022 đúng với số tiền chuyển như ng ban đầu 6.500.000.000 đ ng, nhưng thực tế bà H không giao nhận tiền cho chị L, anh M, mà chuyển khoản giao tiền cho anh T1 (bà H thừa nhận chỉ giao cho anh T1). Tuy là giao tiền qua anh T1 số tiền 13.000.000.000 đ ng nhưng chị L, anh M vẫn trực tiếp quản lý sử dụng đất. L i khai bà H cho rằng có giao đất, có nh ông L1 là anh rể của chị L trông coi đất nhưng ngư c lại ông L1 hiện là ngư i đang ở trên đất, thụ hưởng tài sản trên đất, giữ tài sản cho chị L, anh M trình bày không biết bà H, bà H đến yêu cầu giữ đất giùm là hoàn toàn không có. Đến th i điểm hiện nay chị L anh M là ngư i trực tiếp quản lý sử dụng, việc trông coi đất do ông L1 giữ hộ cho chị L, anh M
Lần 2: ngày 15-4-2021 chị L vay của anh T1 3.000.000.000 đ ng, thế chấp diện tích đất tại thành phố T, có giấy vay tiền nhưng cùng ký h p đ ng chuyển như ng với anh T2. Ngày 26-01-2022, cùng ký h p đ ng hủy h p đ ng chuyển như ng và lập ký h p đ ng chuyển như ng với bà H cùng số tiền chuyển như ng ban đầu 3.000.000.000 đ ng, không có giao nhận tiền, tài sản do chị L, anh M quản lý sử dụng. Sau đó, bà H lập h p đ ng chuyển như ng cho chị N1 vẫn ghi giá chuyển như ng 3.000.000 đ ng, bà H cho rằng giá chuyển như ng thực tế là 4.950.000.000 đ ng, tại tòa chị N1 xác định là bà cho chị L, anh M vay tiền để chuộc lại giá tiền 4.950.000.000 đ ng, diện tích đất hiện chị L, anh M vẫn trực tiếp quản lý sử dụng.
. So sánh đối chiếu hai h p đ ng trên thể hiện về giá đất ghi trong h p đ ng chuyển như ng bằng với số tiền vay ghi trong giấy nhận n giữa chị L với chị D, và số tiền chuyển như ng từ chị L, anh M chị D, bà H bằng nhau không thay đổi, việc giao nhận tiền giữa bà H với anh T1 không có ý kiến của chị L. Ngoài ra, các phần diện tích đất nêu trên các bên không thể hiện việc giao nhận tài sản, không đo đạc cụ thể, giá tiền chuyển như ng, thỏa thuận việc giao nhận tiền.
. Bà H nhận chuyển như ng đất của chị L, anh M, nhưng không có giấy nhận tiền cọc, không có văn bản thể hiện chuyển giao tiền chuyển như ng đất để thanh toán n vay, không có giao nhận đất và số tiền chuyển như ng bà H không cung cấp đư c ch ng c giá chuyển như ng đất, mặc khác bà H cho rằng nhận chuyển như ng phần diện tích đất tại G giá thực tế 13.000.000.000 đ ng ngày 26-01-2022, thanh toán cho anh T1 bằng hình th c chuyển khoản ngày 27-01-2022, tuy nhiên cùng trong ngày 26-01-2022, bà H nhận chuyển như ng đất của anh T2 cháu chị L đất tại thành phố T giá 3.000.000.000 đ ng ghi h p đ ng, cho rằng giá chuyển như ng thực tế là 4.200.000.000 đ ng, vẫn thỏa thuận giao tiền cho anh T1 bằng hình th c chuyển khoản và đưa tiền mặt. Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm l i khai của bà H không đ ng nhất, l i khai trước Hội đ ng xét xử là giao tiền mặt cho anh T1 2.000.000.000 đ ng, chuyển khoản 2.200.000.000 đ ng trong ngày 25-01-2022 trước ngày ký h p đ ng chuyển như ng đất, ngư c lại l i khai khi kiểm sát viên hỏi thì số tiền chuyển khoản cho anh T1 là 2.000.000.000 (hai t ) đ ng, giao nhận tiền mặt tại nhà anh T1 2.200.000.000 (hai t hai trăm triệu) đ ng, qua đối chiếu bản sao kê giao dịch từ ngày 25-01-2022 đến ngày 27-01-2022 không thể hiện số tiền giao dịch, không có nội dung bà H chuyển khoản cho anh T1 tiền chuyển như ng đất tại thành phố T, chỉ thể hiện giao dịch ngày 27-01-2022 bà H chuyển khoản cho anh T1 nhiều lần tổng số tiền 13.000.000.000 (mư i ba t ) đ ng có nội dung “H chuyển tiền đất” không ghi r chuyển như ng đất tại đâu. Ngoài ra, giữa bà H và anh T1 thực hiện nhiều giao dịch khác đều có ghi cụ thể và khoản tiền nhận chuyển chuyển như ng đất của nhiều nơi. Do đó, l i khai của bà H không đ ng nhất và có nhiều mâu thuẫn. Từ đó thấy rằng, bà H chuyển tiền chuyển như ng đất cho anh T1 của 02 phần đất trên có tổng số tiền 13.000.000.000 đ ng giá trị tương ng đất tại thành phố T 3.000.000.000 đ ng và đất tại G 6.500.000.000 đ ng bằng 9.500.000.000 đ ng cùng với khoản tiền lãi phải trả.
. Nên cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị Mỹ L đối với bà Trần Thị Nữ H về việc “Yêu cầu tuyên bố H p đ ng chuyển như ng quyền sử dụng đất vô hiệu và giải quyết hậu quả của h p đ ng”.
Tuyên bố: h p đ ng chuyển như ng quyền sử dụng đất giữa chị Trương Thị Mỹ L và anh Nguyễn Chí M với bà Trần Thị Nữ H đối với phần diện tích đất 15.423,6m2, thuộc thửa số 3, 6, 9, 12, 13, 16 t bản đ số 58. Địa chỉ: Ô, khu phố T, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh số công ch ng 000807, quyển số 01/2022.TP/CC-SCC/HDGD lập ngày 26-01-2022 của Văn phòng C1 vào sổ công ch ng ngày 26-01-2022 là vô hiệu là có căn c .
Tuy nhiên giải quyết hậu quả của H p đ ng vô hiệu cấp sơ thẩm buộc chị Trương Thị Mỹ L và anh Nguyễn Chí M có nghĩa vụ trả lại cho bà Trần Thị Nữ H số tiền gốc là 6.500.000.000 đ ng và 2.265.205.479 đ ng tiền lãi; tiền thuế chuyển mục đích sử dụng đất 870.000.000 đ ng và phí trước bạ là 6.750.000 đ ng. tổng cộng 9.641.955.479 đ ng là chưa đầy đủ vì ngoài các khoản tiền nói trên bà H đã nộp thêm khoản tiền chậm nộp (BL 124) là 7.954.500 đ ng và tiền bảo vệ phát triển đất tr ng lúa là 88.750.000 đ ng đây là các khoản nghĩa vụ bà H đã đóng cho nhà nước thay cho v ch ng chị L, anh M nên cần buộc chị L, anh M hoàn trả số tiền này cho bà H, cấp sơ thẩm không xem xét đến số tiền này là thiếu sót cần rút kinh nghiệm.
Từ các nhận định trên thấy rằng anh Nguyễn Đ c T1 kháng cáo c ng không đư c ch ng c gì mới nên không có căn c chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Đ c T1; chấp nhận một phần kháng cáo của bà Trần Thị Nữ H sửa bản án dân sự sơ thẩm đối với phần giải quyết hậu quả của h p đ ng vô hiệu buộc chị Trương Thị Mỹ L và anh Nguyễn Chí M có nghĩa vụ trả lại cho bà Trần Thị Nữ H số tiền gốc là 6.500.000.000 đ ng và 2.265.205.479 đ ng tiền lãi; tiền thuế chuyển mục đích sử dụng đất 870.000.000 đ ng và phí trước bạ là 6.750.000 đ ng; tiền chậm nộp là 7.954.500 đ ng và tiền bảo vệ phát triển đất tr ng lúa là 88.750.000 đ ng. Tổng cộng 9.738.659.979 (chín t , bảy trăm ba mươi tám triệu sáu trăm năm mươi chín nghìn, chín trăm bảy mươi chín) đ ng.
Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tại phiên tòa phúc thẩm phù h p một phần với nhận định của Hội đ ng xét xử nên chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm: do sửa bản án dân sự sơ thẩm nên Hội đ ng xét xử xác định lại án phí dân sự sơ thẩm:
Bà H thuộc trư ng h p miễn nộp tạm ng án phí nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm.
Chị L, anh M phải chịu: 117.738.600 đ ng tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng chị L đư c khấu trừ số tiền tạm ng án phí đã nộp 300.000 đ ng theo biên lai số 0025851 ngày 10-10-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò DầG, tỉnh Tây Ninh. Chị L, anh M còn phải nộp thêm số tiền: 117.438.600 đ ng.
Về án phí dân sự phúc thẩm: do kháng cáo của anh Nguyễn Đ c T1 không đư c chấp nhận nên anh T1 phải chịu 300.000 đ ng án phí dân sự phúc thẩm. Khấu trừ số tiền tạm ng án phí dân sự phúc thẩm 300.000 đ ng anh T1 đã nộp theo biên lai thu số 0000827 ngày 12/11/2024 Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò DầG, tỉnh Tây Ninh anh T1 đã nộp xong án phí dân sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết th i hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các l trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn c vào khoản 2 Điều 308; Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
1. Không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Đ c T1;
2. Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Trần Thị Nữ H; sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 276/2024/DS-ST, ngày 30 tháng 9 năm 2024, của Toà án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh đối với phần giải quyết hậu quả của h p đ ng vô hiệu.
Căn c các Điều 117, 122, 123, 500, 501, 502, 503 của Bộ luật dân sự; Điều 188 Luật Đất đai năm 2013; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thư ng vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
3. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị Mỹ L đối với bà Trần Thị Nữ H về việc “Yêu cầu tuyên bố H p đ ng chuyển như ng quyền sử dụng đất vô hiệu và giải quyết hậu quả của h p đ ng”.
Tuyên bố: h p đ ng chuyển như ng quyền sử dụng đất giữa chị Trương Thị Mỹ L và anh Nguyễn Chí M với bà Trần Thị Nữ H đối với phần diện tích đất 15.423,6m2, thuộc thửa số 3, 6, 9, 12, 13, 16 t bản đ số 58. Địa chỉ: Ô, khu phố T, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh số công ch ng 000807, quyển số 01/2022.TP/CC-SCC/HDGD lập ngày 26-01-2022 của Văn phòng C1 vào sổ công ch ng ngày 26-01-2022 là vô hiệu.
4. Giải quyết hậu quả của h p đ ng: buộc chị Trương Thị Mỹ L và anh Nguyễn Chí M có nghĩa vụ trả lại cho bà Trần Thị Nữ H số tiền gốc là 6.500.000.000 đ ng và 2.265.205.479 đ ng tiền lãi; tiền thuế chuyển mục đích sử dụng đất 870.000.000 đ ng và phí trước bạ là 6.750.000 đ ng; tiền chậm nộp là 7.954.500 đ ng và tiền bảo vệ phát triển đất tr ng lúa là 88.750.000 đ ng. Tổng cộng 9.738.659.979 (chín t bảy trăm ba mươi tám triệu, sáu trăm năm mươi chín nghìn chín trăm bảy mươi chín) đ ng.
Kể từ ngày bà H có đơn yêu cầu thi hành án, cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng anh M, chị L còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo m c lãi suất theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015.
5. Chị L, anh M đư c quyền tiếp tục quản lý, sử dụng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất đối với phần diện tích đất 15.423,6m2, thuộc thửa số 3, 6, 9, 12, 13, 16 t bản đ số 58. Địa chỉ: Ô, khu phố T, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh.
6. Chị L, anh M có quyền và nghĩa vụ đến cơ quan có thẩm quyền thực hiện thủ tục chỉnh lý biến động đất đai.
7. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Trần Thị Nữ H về việc: Đề nghị Tòa án cư ng chế chị L, anh M tháo d căn nhà cấp 4; kết cấu tư ng gạch, cột gạch, mái tôn; diện tích 3m x 3,5m trên khu đất thuộc giấy ch ng nhận QSDĐ số BC 520654 số vào sổ cấp giấy ch ng nhận: CH 00580 do UBND huyện G cấp 26-01-2011 để trả lại cho bà H khi bản án có hiệu lực; Cư ng chế ngư i liên quan đang ở trên khuôn viên nhà đất tại giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất số BC 520654 số vào sổ cấp giấy ch ng nhận: CH 00580 để trả lại đất cho bà H khi bản án có hiệu lực pháp lực.
8. Đối với khoản tiền bà H chuyển khoản cho anh T1 ngày 27-01-2022: là 13.000.000.000 đ ng chênh lệch 6.500.000.000 đ ng so với h p đ ng chuyển như ng quyền sử dụng đất công ch ng số công ch ng 000807, quyển số 01/2022.TP/CC-SCC/HDGD giữa v ch ng chị Trương Thị Mỹ L, anh Nguyễn Chí M với bà Trần Thị Nữ H đã đư c Văn phòng C1 vào sổ công ch ng ngày 26-01-2022 đối với phần đất 15.423,6m2 Địa chỉ: Ô, khu phố T, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh bị tuyên vô hiệu, đư c tách ra giải quyết vụ án khác khi các bên có yêu cầu.
9. Án phí: Bà H thuộc trư ng h p miễn nộp tạm ng án phí nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm.
Chị L, anh M phải chịu: 117.738.600 (một trăm mư i bảy triệu bảy trăm ba mươi tám nghìn sáu trăm) đ ng tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng chị L đư c khấu trừ số tiền tạm ng án phí đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đ ng theo biên lai số 0025851 ngày 10-10-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò DầG, tỉnh Tây Ninh. Chị L, anh M còn phải nộp thêm số tiền: 117.438.600 (một trăm mư i bảy triệu bốn trăm ba mươi tám nghìn sáu trăm) đ ng.
Anh Nguyễn Đ c T1 phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đ ng án phí dân sự phúc thẩm. Khấu trừ số tiền tạm ng án phí dân sự phúc thẩm 300.000 (ba trăm nghìn) đ ng anh T1 đã nộp theo biên lai thu số 0000827 ngày 12/11/2024 Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò DầG, tỉnh Tây Ninh anh T1 đã nộp xong án phí dân sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết th i hạn kháng cáo, kháng nghị.
10. Trư ng h p bản án, quyết định đư c thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì ngư i đư c thi hành án dân sự, ngư i phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cư ng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; th i hiệu thi hành án đư c thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
11. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND.TTN; - TAND huyện Gò Dầu; - Chi cục THADS huyện Gò Dầu; - Phòng KTNV. TATTN; - Các đương sự; - Lưu h sơ; - Lưu VP TAND tỉnh; - Lưu tập án DSPT.N2 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Nam |