vanban.org

Bản án 236/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân:

Xử: Cho chị Tương Thị H được ly hôn anh Trần Văn H. Về con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "HNGĐ"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân:
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN SƠN
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 236 /2024/HNGĐ-ST
Ngày 28 / 8 /2024
Về việc: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN SƠN, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Thu Thuỷ

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đặng Thị Huệ

2. Ông Phạm Văn Ninh

- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Thảo Phương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Lương Nguyễn Thảo Phương – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Sơn mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 193/2024/TLST- HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2024, về “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12/8/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Tương Thị H, sinh năm 1989

Địa chỉ: Thôn L, xã X, huyện Y, tỉnh T.

Chị Hoà có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Trần Văn H, sinh năm 1986

Địa chỉ: Thôn L, xã X, huyện Y, tỉnh T.

Anh Hường đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Chị Tương Thị H và anh Trần Văn Hg kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được hai bên gia đình cưới hỏi theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn ngày 13/11/2009 tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện Y, tỉnh T. Theo chị H thì quá trình chung sống vợ chồng không được hoà thuận do anh H thường xuyên rượu chè, không tu chí làm ăn và không thể nuôi dạy được con cái; vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2023 đến nay, hiện không còn tình cảm. Đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Văn H. Anh Trần Văn H cho rằng vợ chồng anh chung sống bình thường, anh thấy mình không có lỗi gì, chỉ hay uống rượu, cô H hay nói nhưng anh không bỏ được, anh không đánh vợ bao giờ; hiện nay vợ chồng anh đã ly thân, cô H đi làm công ty ở Hải Phòng và thi thoảng chỉ về nhà mẹ đẻ, anh không có cách nào liên lạc và không gặp được cô H; anh không đồng ý ly hôn vì anh vẫn còn tình cảm, yêu quý vợ con.

Về con chung: Chị Tương Thị H và anh Trần Văn H cùng thống nhất xác định có 02 con chung là Trần Văn H, sinh ngày 03/01/2010 và Trần Thị Phương T, sinh ngày 07/7/2012 hiện cả hai con đều đang được chị H gửi nuôi tại nhà ông bà ngoại các cháu ở cùng thôn L. Chị H đề nghị Toà án giải quyết giao cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng con gái nhỏ là Trần Thị Phương T; giao cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng con trai lớn là Trần Văn H; chị và anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Anh H đề nghị, nếu cô H cứ kiên quyết ly hôn thì anh xin nuôi cả hai con chung của anh và cô H, yêu cầu cô Hoà cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh là 5.000.000 đồng/tháng/02 con.

Về tài sản chung: Chị Tương Thị H và anh Trần Văn H cùng thống nhất xác định có tài sản chung nhưng tự thoả thuận, không đề nghị Toà án giải quyết.

Về vay nợ chung: Chị Tương Thị H và anh Trần Văn H xác định không có nên không đề nghị Toà án giải quyết.

Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Toà án nhân dân huyện Yên Sơn đã tiến hành các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải giữa chị Tương Thị H và anh Trần Văn H, tuy nhiên chị H và H đều đề nghị Toà án không tiến hành hoà giải và xin vắng mặt tại phiên toà; không ai đề nghị Toà án giải quyết vấn đề nào khác với nội dung đã trình bày.

* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang:

- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn khi tham gia tố tụng dân sự đều đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Chị Tương Thị H và anh Trần Văn H có đăng ký kết hôn ngày 13/11/2009 tại UBND xã X, huyện Y, tỉnh T là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, giữa anh chị đã xảy ra mâu thuẫn không thể hoà giải được. Chị H đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn còn anh H không đồng ý nhưng cả hai đều đề nghị Toà án không tiến hành hoà giải. Căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Tương Thị H. Do chị H và anh H đều có nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi con; đề nghị HĐXX xử giao cho anh H nuôi con Trần Văn H, sinh ngày 03/01/2010 và giao cho chị H nuôi con Trần Thị Phương T, sinh ngày 07/7/2012; hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau là phù hợp. Chị H và anh H cùng xác định có tài sản chung nhưng tự thoả thuận và không có vay nợ chung nên đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết. Đề nghị HĐXX tuyên chị Tương Thị H phải chịu án phí; các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ (tống đạt trực tiếp, gửi bảo đảm qua đường bưu điện) các văn bản tố tụng cho nguyên đơn và bị đơn. Chị Tương Thị H và anh Trần Văn H đều có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên toà. Căn cứ Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định pháp luật.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Tương Thị H và anh Trần Văn H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn đúng quy định pháp luật tại UBND xã X, huyện Y, tỉnh T vào ngày 13/11/2009. Như vậy quan hệ hôn nhân của chị H và anh H là hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày nhưng không có cách giải quyết, không thể tự hoà giải. Quá trình Toà án giải quyết, chị Tương Thị H có mặt và có bản tự khai. Anh Trần Văn H không có mặt theo giấy triệu tập; Toà án phải tiến hành lấy lời khai và xác minh tại nơi cư trú. Chị Tương Thị H yêu cầu Toà án giải quyết được ly hôn với anh Trần Văn H nhưng anh H không đồng ý ly hôn, tuy nhiên cả hai anh chị đều đề nghị Toà án không tiến hành hoà giải và đề nghị Toà án xét xử vụ án theo nguyện vọng của mình.

Như vậy, có đủ cơ sở cho thấy hôn nhân của chị Tương Thị H và anh Trần Văn H đã lâm vào tình trạng thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, không có khả năng tiếp tục chung sống. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận xử cho chị Tương Thị H được ly hôn với anh Trần Văn H.

Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Tương Thị H và anh Trần Văn H có 02 con chung là Trần Văn H, sinh ngày 03/01/2010 và Trần Thị Phương T, sinh ngày 07/7/2012; hiện cả hai con đều phát triển bình thường. Anh H xin nuôi cả hai con chung và yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con cùng anh là 5.000.000 đồng/tháng/02 con; chị H đề nghị anh chị mỗi người nuôi một con chung, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau. Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ trên cơ sở xem xét về nguyện vọng nuôi con, về công việc và thực trạng cuộc sống hiện tại của các bên đương sự, đồng thời để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con chưa thành niên, Hội đồng xét xử thấy giao con gái Trần Thị Phương T, sinh ngày 07/7/2012 cho chị H và giao con trai Trần Văn H, sinh ngày 03/01/2010 cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục; chị H và anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau và có quyền thăm nom chăm sóc con chung là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung: Chị Tương Thị H và anh Trần Văn H cùng xác định vợ chồng có tài sản chung nhưng tự thoả thuận nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về vay nợ chung: Chị Tương Thị H và anh Trần Văn H cùng xác định vợ chồng không có vay nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Tương Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm; anh Trần Văn H không phải nộp án phí.

Về quyền kháng cáo: Chị Tương Thị H và anh Trần Văn H được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 28, 35, 147, 166, khoản 2 Điều 227, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, khoản 1 và 3 Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân:

Xử: Cho chị Tương Thị H được ly hôn anh Trần Văn H.

2. Về con chung:

Xử: Giao con chung là Trần Thị Phương T, sinh ngày 07/7/2012 cho chị Tương Thị H và giao con chung là Trần Văn H, sinh ngày 03/01/2010 cho anh Trần Văn H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục sau khi ly hôn. Chị Tương Thị H và anh Trần Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí:

Chị Tương Thị H phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002091 ngày 15 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Chị Tương Thị H đã nộp đủ án phí của vụ án.

Anh Trần Văn H không phải nộp án phí.

Chị Tương Thị H và anh Trần Văn H vắng mặt tại phiên toà, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ