- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hoàng N phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng N phạm tội Trộm cắp tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 236/2023/HS-ST Ngày: 26-9-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Lài
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Tống Văn Tâm;
2. Ông Huỳnh Sơn Tây.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trọng - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tiến hành xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 223/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 201/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Hoàng N, sinh năm 1983 tại Bình Dương; nơi thường trú: số 29, tổ 3, khu phố 6, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N và bà Võ Thị B; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Kim T, có 01 con sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/6/2023 cho đến nay; có mặt.
- Bị hại: Bà Trương Thị L, sinh năm 1978; địa chỉ: tổ 1, khu phố 2, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
- Người làm chứng: Anh Nguyễn Chí C; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Hoàng N là đối tượng sử dụng ma tuý. Do không có tiền tiêu xài, N nảy sinh ý định tìm tài sản để chiếm đoạt. Thực hiện ý định, khoảng 13 giờ ngày 12/6/2023 N điều khiển xe mô tô biển số 67B1 – 804.02 đi từ phường Đ, thành phố T đến phường H, thành phố T để tìm tài sản. Khi đi qua ki ốt của bà Trương Thị L thì nhìn thấy bên cạnh chỗ bà L đang nằm ngủ có 01 túi xách. Lúc này, N dừng xe lại phía trước ki ốt rồi đi đến dùng tay phải lấy túi xách đi ra vị trí xe mô tô để chạy thoát. Lúc này, bà L phát hiện mất túi xách nên tri hô và cùng ông Nguyễn Chí C bắt giữ N giao cho Công an phường Hội Nghĩa xử lý.
Công an phường Hội Nghĩa tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ các tài sản bên trong túi xách gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo 1820 màu đỏ có 01 ốp lưng bằng nhựa màu đỏ, số tiền 6.273.000 đồng và 01 xe mô tô biển số 67B1 - 804.02.
Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 51/KLTS-TTHS ngày 13/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo 1820 màu đỏ trị giá 900.000 đồng, 01 ốp lưng bằng nhựa màu đỏ trị giá 15.667 đồng, 01 giỏ xách nhựa caro nhiều màu trị giá 35.000 đồng.
Bản Cáo trạng số 240/CT-VKSTU ngày 21/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng N về tội “Trộm cắp tài sản”. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử như sau:
- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng N từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
- Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Tịch thu sung quỹ Nhà nước xe mô tô nhãn hiệu Hoda Wave màu đỏ đen gắn biển số 67B1 - 804.02.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Trương Thị L đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì thêm.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Bị cáo không có ý kiến gì trong phần tranh luận. Trong phần trình bày lời nói sau cùng, bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo rất hối hận và hứa sẽ không vi phạm pháp luật nữa, bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Tân Uyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Bị hại, người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa. Quá trình điều tra, lời khai của họ không mâu thuẫn với lời khai của bị cáo và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đại diện Viện kiểm sát và bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt bị hại, người làm chứng. Xét thấy, việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử, căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người này.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hoàng N khai nhận: Ngày 12/6/2023, tại khu phố 3, phường Hội Nghĩa, thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, Nguyễn Hoàng N đã lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của bà Trương Thị L đã lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo 1820 màu đỏ, 01 ốp lưng bằng nhựa màu đỏ, 01 túi xách caro nhiều màu và số tiền 6.273.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 7.223.667 đồng. Do vậy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản như trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo nhận thức được hành vi mình thực hiện là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, thể hiện sự xem thường pháp luật, xem thường quyền sở hữu tài sản của người khác. Do đó, cần có hình phạt nghiêm để răn đe đối với bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi trả cho bị hại. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo 1820 màu đỏ, 01 ốp lưng bằng nhựa màu đỏ, 01 túi xách nhựa caro nhiều màu và số tiền 6.273.000 đồng là tài sản hợp pháp của bà Trương Thị L. Ngày 21/6/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tân Uyên đã ra quyết định xử lý vật chứng số 67 trả lại những tài sản nêu trên cho bà Long, là phù hợp;
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Hoda Wave RSX màu đỏ đen biển số 67B1 – 804.02, bị cáo khai nhận mua của 01 người nam thanh niên (không rõ nhân thân) có biển số là 61X- 6719, khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản bị cáo đã tháo biển số 61X- 6719 và lắp ráp vào biển số 67B1 – 804.02. Qua tra cứu xác định biển số 67B1 – 804.02 do ông Vương Ngọc Đ đứng tên đăng ký chủ sở hữu, ông Đ khai nhận xe mô tô trên ông đã bán không còn sử dụng. Tra cứu biển số 61X- 6719 xác định chủ sở hữu là ông Trương Văn T đứng tên chủ sở hữu, qua xác minh ông T không còn sinh sống tại phường Đ, thành phố T. Ngày 12/6/2023, bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng N phạm tội Trộm cắp tài sản.
1. Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng N 09 (Chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/6/2023.
2. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu gì nên không xem xét, giải quyết.
3. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên: Tịch thu sung quỹ Nhà nước xe mô tô hiệu Wave màu đỏ đen gắn biển số 67B1-804.02, số khung 12358Y467 595, số máy 12E2220676.
4. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo; bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nếu vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - PV06, Công an tỉnh Bình Dương; - VKSND thành phố Tân Uyên; - Công an thành phố Tân Uyên; - Chi cục THADS thành phố Tân Uyên; - Bị cáo; người tham gia tố tụng; - Lưu: VT, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Lài |