vanban.org

Bản án 236/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thị L. [1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Dương Thị L được ly hôn anh Đỗ Văn H. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 11 Luật Cư trú; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 236/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 06 - 9 - 2023
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Phước Sang

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trương Phước Công

2. Ông Trần Thanh Sang

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Cẩm Tiên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Lợi - Kiểm sát viên

Ngày 06 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 414/2023/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 6 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 404/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 522/2023/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, giữa:

1. Nguyên đơn: Chị Dương Thị L, sinh năm 1983

Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).

2. Bị đơn: Anh Đỗ Văn H, sinh năm 1977

Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Dương Thị L trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh H do tự tìm hiểu nên tiến đến chung sống như vợ chồng khoảng năm 2000, gia đình 02 bên không có tổ chức đám cưới cho chị L và anh H. Đến năm 2007, chị L và anh H đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh An Giang. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống tại nhà của anh H, khi sinh cháu Đỗ Văn V được khoảng 01 năm thì vợ chồng về nhà cha mẹ chị L sinh sống, đến năm 2007 thì vợ chồng đi làm tại tỉnh Bình Dương. C sống đến tháng 04/2009 thì phát sinh mâu thuẫn do anh H có tình cảm với người phụ nữ khác, không quan tâm vợ, con; khi chị L khuyên ngăn thì anh H đánh đập chị L, việc anh H có hành vi bạo lực gia đình đối với chị L diễn ra rất nhiều lần, có lần anh H đánh chị L đến mức phải đi nằm viện. Đỉnh điểm của mâu thuẫn và vợ chồng không còn tiếng nói chung là vào năm 2010 nên vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân. gia đình 02 bên không có động viên, hàn gắn tình cảm vợ chồng cho chị L và anh H; bản thân chị L và anh H cũng không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng do chị L đã cho anh H nhiều lần cơ hội để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng do anh H không thay đổi tính tình nên không thể hàn gắn được. Nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên chị L yêu cầu được ly hôn với anh H.

- Về con chung: Chị Dương Thị L và anh Đỗ Văn H có 02 con chung tên Đỗ Văn V, sinh ngày 04/4/2001 và Đỗ Văn T, sinh ngày 16/3/2009. Khi ly hôn, chị Dương Thị L yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Đỗ Văn T do cháu T đang ở với chị L; chị L không yêu cầu anh Đỗ Văn H cấp dưỡng nuôi con. Đối với con chung tên Đỗ Văn V hiện nay đã thành niên và có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới giải quyết.

Anh Đỗ Văn H vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.

Tại phiên tòa,

Chị Dương Thị L trình bày: Vợ chồng chung sống đến năm 2009 thì vợ chồng không còn tiếng nói chung, thường phát sinh mâu thuẫn do anh H có tình cảm với người phụ nữ khác, không quan tâm vợ, con và có hành vi bạo lực gia đình đối với chị L. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2010 cho đến nay, trong thời gian sống ly thân, gia đình hai bên không có động viên, hàn gắn tình cảm vợ chồng cho chị L và anh H; bản thân chị L đã cho anh H nhiều cơ hội để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng do anh H không thay đổi tính tình nên không hàn gắn được. Do đó, chị L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, về quan hệ hôn nhân, chị L yêu cầu được ly hôn với anh H; về con chung, chị L yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Đỗ Văn T, sinh ngày 16/3/2009, hiện nay đang sống với chị L; chị L không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con; đối với con chung tên Đỗ Văn V, sinh ngày 04/4/2001, hiện nay đã thành niên và có khả năng lao động nên chị L không yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới giải quyết; về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới giải quyết.

Anh Đỗ Văn H vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn sơ thẩm: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã làm đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thị L. Về quan hệ hôn nhân, chị Dương Thị L được ly hôn với anh Đỗ Văn H. Chị Dương Thị L được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Đỗ Văn T, sinh ngày 16/3/2009; anh Đỗ Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới giải quyết nên không đề cập đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Theo đơn khởi kiện, giấy chứng nhận đăng ký kết hôn, anh Đỗ Văn H có nơi cư trú tại ấp A, xã A, huyện C, tỉnh An Giang. Đồng thời, tại Biên bản xác minh ngày 05/9/2023, anh Đỗ Văn H vẫn còn cư trú tại ấp A, xã A, huyện C, tỉnh An Giang. Căn cứ Điều 11 Luật Cư trú, Điều 5 và Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xác định nơi cư trú của anh Đỗ Văn H tại ấp A, xã A, huyện C, tỉnh An Giang để giải quyết vụ án theo thủ tục chung là đúng theo quy định của pháp luật.

Chị Dương Thị L khởi kiện yêu cầu được ly hôn đối với anh Đỗ Văn H, yêu cầu được tiếp tục chăm, sóc nuôi dưỡng con chung khi ly hôn là tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Đồng thời, anh Đỗ Văn H (bị đơn) có nơi cư trú tại ấp A, xã A, huyện C, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Đối với anh Đỗ Văn H đã được Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng trong vụ án nhưng vắng mặt không có lý do trong quá trình tố tụng tại Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới. Đồng thời, anh Đỗ Văn H đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 02 để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Đỗ Văn H.

Về nội dung vụ án:

Đối với quan hệ hôn nhân:

Chị Dương Thị L cho rằng, chị L và anh H do tự tìm hiểu nên tiến đến hôn nhân vào năm 2000 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh An Giang vào ngày 15/11/2007. Vợ chồng chung sống đến năm 2009 thì phát sinh mâu thuẫn do anh H có tình cảm với người phụ nữ khác, không quan tâm vợ, con và có hành vi bạo lực gia đình với chị L. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2010 cho đến nay. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân, anh H không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng; gia đình hai bên không có động viên, hàn gắn tình cảm vợ chồng cho chị L và anh H; chị L đã cho anh H nhiều cơ hội để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng do anh H không thay đổi tính tình nên không hàn gắn được. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị L yêu cầu ly hôn với anh H.

Anh Đỗ Văn H đã được tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thị L.

Xét thấy, chị Dương Thị L và anh Đỗ Văn H kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình, là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Anh Đỗ Văn H đã được Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của chị L theo quy định tại Điều 91 và Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới đã tiến hành hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng cho chị L và anh H theo quy định của pháp luật nhưng anh H vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới nên không hòa giải được, thể hiện anh Đỗ Văn H không còn thiện chí níu kéo quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh H nên lời trình bày của chị L về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn và tình trạng hôn nhân giữa chị L và anh H đã lâm vào tình trạng trầm trọng là có cơ sở chấp nhận. Do đó, có căn cứ để xác định hôn nhân giữa chị L và anh H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, việc chị L yêu cầu ly hôn với anh H phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.

Đối với con chung:

Chị Dương Thị L xác định chị L và anh H có 02 con chung tên Đỗ Văn V, sinh ngày 04/4/2001 và Đỗ Văn T, sinh ngày 16/3/2009, hiện nay đang sống với chị L. Khi ly hôn, chị L yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Đỗ Văn T, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Đối với con chung tên Đỗ Văn V hiện nay đã thành niên và có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới giải quyết.

Xét thấy, việc giao con chung là người chưa thành niên cho người chăm sóc, nuôi dưỡng khi chị L và anh H ly hôn phải đảm bảo điều kiện phát triển tốt nhất cho con cả về vật chất lẫn tinh thần. Căn cứ lời trình bày của chị L, từ khi vợ chồng sống ly thân, cháu Đỗ Văn T sinh sống với chị L cho đến nay nên tình cảm của cháu đã gắn liền với người nuôi dưỡng; quá trình sinh sống với chị L, cháu T vẫn phát triển bình thường. Đồng thời, cháu T cũng có nguyện vọng được sống với chị L. Để ổn định cuộc sống cho cháu T, giúp cháu T phát triển tốt nhất về thể chất và tinh thần, Hội đồng xét xử xét thấy việc chị L yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung khi chị L và anh H ly hôn phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.

Đối với con chung tên Đỗ Văn V do hiện nay đã thành niên và có khả năng lao động nên chị Dương Thị L không yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.

[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Dương Thị L là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung khi chị L và anh H ly hôn nên anh Đỗ Văn H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình nhưng chị Dương Thị L không yêu cầu anh Đỗ Văn H có nghĩa vụ cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét. Trường hợp sau này có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.

Đối với tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét. Trường hợp sau này có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.

Về án phí và quyền kháng cáo:

Chị Dương Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Các đương sự được quyền kháng cáo Bản án theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Điều 28, 35, 39, 147, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thị L.

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Dương Thị L được ly hôn anh Đỗ Văn H.

Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 48, ngày 11/5/2007 do Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh An Giang cấp cho chị Dương Thị L và anh Đỗ Văn H không còn giá trị pháp lý.

[2] Về con chung:

Chị Dương Thị L được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Đỗ Văn T, sinh ngày 16/3/2009. Hiện nay đang sống với chị Dương Thị L.

Anh Đỗ Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị Dương Thị L cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh Đỗ Văn H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

[3] Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới giải quyết.

[4] Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới giải quyết.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Dương Thị L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo Biên lai số 0013734 ngày 08/6/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

[6] Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

[7] Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ