- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Mỹ P tranh chấp ly hôn với Nguyễn văn N"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Mỹ P. Bà Nguyễn Thị Mỹ P được ly hôn với ông Nguyễn Văn N.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 115 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:136/2023/HNGĐ – ST Ngày 27- 4- 2023 V/v tranh chấp “Ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH, TỈNH BẾN TRE
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Phê
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Hơn
2. Ông Nguyễn Thanh Nhã.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre tham gia phiên toà: Bà Huỳnh Thanh Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 28/2023/TLST - HNGĐ ngày 07 tháng 02 năm 2023 về việc tranh chấp “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2023/QĐXXST–HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 24/2023/QĐST – HNGĐ ngày 17/4/2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ P, sinh năm 1981; Địa chỉ: ấp ĐM, xã PC, huyện TC, tỉnh Trà Vinh. Có đơn xin văng mặt.
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1985; Địa chỉ: ấp TY, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ P trình bày:
Vào năm 2011 bà và ông Nguyễn Văn N được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới, hôn nhân tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã T và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 22/11/2011. Trong thời gian sống chung ông, bà có 02 con chung tên Nguyễn Hữu Đ, sinh ngày 19/5/2011, Nguyễn Hữu P, sinh ngày 30/9/2016, hiện đang sống chung với bà; trong thời gian chung sống bà và ông N không có tài sản chung và nợ chung.
Nguyên nhân ly hôn: là do trong thời gian chung sống ông, bà bất đồng quan điểm vợ chồng ngày càng mất lòng tin và không còn tiếng nói chung; ông N không quan tâm chăm sóc cho vợ con, gia đình hai bên có hàn gắn nhưng không thành; ông bà không còn sống chung, không còn quan tâm chăm sóc cho nhau từ năm 2018 cho đến nay. Nhận thấy ông, bà có nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn được nên bà có yêu cầu như sau:
V uan hệ h n nh n: Bà yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn N. Bà không yêu cầu giải quyết cấp dưỡng giữa vợ và chồng sau khi ly hôn.
V con chung: Bà Nguyễn Thị Mỹ P yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Hữu Đ, sinh ngày 19/5/2011, Nguyễn Hữu P, sinh ngày 30/9/2016, Bà không yêu cầu ông Nguyễn Văn N cấp dưỡng nuôi con chung.
+ V i n chung: không yêu cầu giải quyết.
+ V nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết
Bị đơn ông Nguyễn Văn N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng ông N vẫn vắng mặt không có lý do, không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cũng không cung cấp chứng cứ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Lách phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ P đối với bị đơn ông Nguyễn Văn N. Cho bà Nguyễn Thị Mỹ P được ly hôn đối với ông Nguyễn Văn N. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Hữu Đ, Nguyễn Hữu P cho bà Nguyễn Thị Mỹ P được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, do bà Nguyễn Thị Mỹ P không yêu cầu ông Nguyễn Văn N cấp dưỡng nuôi con chung nên đề nghị không xem xét; Về tài sản chung không yêu cầu nên đề nghị không xem xét, về nợ chung không có nên đề nghị không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật: Đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn” được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Về thẩm quyền: Bị đơn ông Nguyễn Văn N hiện có đăng ký thường trú tại ấp TY, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị Mỹ P có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Nguyễn Văn N đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng ông N vẫn vắng mặt không có lý do vì vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà Nguyễn Thị Mỹ P và ông Nguyễn Văn N.
Về nội dung:
Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Mỹ P và ông Nguyễn Văn N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bên nào bị lừa dối hoặc bị ép buộc, cả hai có đủ điều kiện kết hôn. Việc kết hôn có đăng ký tại Uỷ ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 22/11/2011. Vì vậy quan hệ hôn nhân của bà P, ông N được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Nguyên nhân bà P xin ly hôn với ông N là do trong thời gian chung sống ông, bà bất đồng quan điểm vợ chồng ngày càng mất lòng tin và không còn tiếng nói chung, ông N không quan tâm chăm sóc cho vợ con; gia đình hai bên có hàn gắn nhưng không thành, ông bà không còn sống chung từ năm 2018 cho đến nay. Xét thấy: Từ năm 2018 cho đến nay bà P và ông N không còn sống chung, không còn quan tâm chăm sóc cho nhau. Mặc khác ông N biết rõ việc bà P xin ly hôn với ông, Tòa án đã tạo điều kiện để bà P, ông N hòa giải hàn gắn tình cảm nhưng ông N vắng mặt không có lý do nên từ đó có căn cứ kết luận tình trạng mâu thuẫn trong hôn nhân giữa bà P và ông N đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài; mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà P là phù hợp. Do bà Nguyễn Thị Mỹ P và ông Nguyễn Văn N không yêu cầu giải quyết nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về con chung: Bà Nguyễn Thị Mỹ P và ông Nguyễn Văn N có 02 con chung tên Nguyễn Hữu Đông và Nguyễn Hữu Phước. Xét thấy: Từ khi bà P và ông N không còn sống chung, không còn quan tâm chăm sóc cho nhau thì con chung do bà P trực tiếp nuôi dưỡng, con chung có sự phát triển tốt về thể chất và tinh thần; Mặc khác con chung có nguyện vọng sống chung với bà P. Lẽ đó cần giao cho bà P được tiếp tục nuôi con chung là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Do bà P không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Xét phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Lách là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Bà Nguyễn Thị Mỹ P phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
[7 ] Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, 39, 147, điểm a, b khoản 1 Điều 227, 228, 238, Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83, 84 và Điều 115 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí của Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Mỹ P. Bà Nguyễn Thị Mỹ P được ly hôn với ông Nguyễn Văn N.
Do bà Nguyễn Thị Mỹ P và ông Nguyễn Văn N không yêu cầu giải quyết nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ, chồng khi ly hôn nên không xem xét.
2. Về con chung: Bà Nguyễn Thị Mỹ P được trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Hữu Đ, sinh ngày 19/5/2011, Nguyễn Hữu P, sinh ngày 30/9/2016, con chung đang sống với bà P và có nguyện vọng sống chung với bà P. Do bà Nguyễn Thị Mỹ P không yêu cầu ông Nguyễn Văn N cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét giải quyết.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được quyền cản trở. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân tổ chức theo quy định của pháp luật Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
3.Về tài sản chung: Không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
4. Về nợ chung: Không có nên không xem xét giải quyết.
5. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị Mỹ P phải nộp là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0001579 ngày 06/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách và đã nộp xong.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TA tỉnh Bến Tre
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND huyện Chợ Lách;
(Đã ký)
- Chi cục T.H.A DS huyện Chợ Lách;
- Các đương ự;
- UBND xã Tân Thi ng, huyện Chợ Lách;
- Lưu HSVA VP.
Huỳnh Thị Phê
| Nơi nhận: -VKSND huyện; - TA tỉnh; - Đương sự; - Chi cục THADS huyện; - UBND xã Tân Phong; - Lưu. Caùc Hoäi thaåm nhaân daân Chuû toaï phieân toaø Nguyễn Văn Chót – Phạm Minh Đạt | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ HUỲNH THỊ PHÊ Thaåm phaùn – Huyønh Thò Pheâ |