- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp QSDĐ"
- Tòa quyết gì? Căn c khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự.
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ —————————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 236/2023/DS-PT Ngày: 29/5/2023 V anh ch p uy n d ng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ ọa phiên òa: Ông Nguyễn Chế Linh
Các Thẩm phán:
Ông Lương Phước Đại
Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Trang là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa:Ông Nguyễn Văn Phi - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 17/2023/TLPT-DS ngày 02 tháng 02 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 53/2022/DSST ngày 10 tháng 11 năm 2022của Tòa án nhân dân huyện Phong Điền bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 98/2023/QĐ-PT ngày 13 tháng 02 năm 2023giữa các đương sự:
1.Nguyên ơn: Ông Nguyễn Hữu M, sinh năm 1944. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ.
Người ại diện theo ủy quy n của nguyên ơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc N; cư trú tại ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ(Văn bản ủy quyền ngày 24/5/2023).
2.Bị ơn: Ông Dương Trung T, sinh năm 1961. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ.
Người bảo vệ quy n và lợi ích hợp pháp cho bị ơn: Luật sư Trần Vũ Thanh T1của Văn phòng L1thuộc Đoàn Luật sư thành phố C.
3.Người có quy n lợi à nghĩa liên quan:
3.1.Bà Nguyễn Thị Ngọc N, sinh năm 1975.
3.2.Bà Nguyễn Thị Ngọc B, sinh năm 1978.
3.3.ÔngNguyễn Hữu C, sinh năm 1980.
3.4.Ông Hồ Trung T2, sinh năm 1978.
3.5.Ông Nguyễn Hữu T3, sinh năm 1983.
3.6.Ông Nguyễn Xuân T4, sinh năm 1973.
3.7.Nguyễn Ngọc H, sinh năm 2000.
3.8.Nguyễn Xuân T5, sinh năm 2004.
Cùng địa chỉ: ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ.
3.9.Bà Võ Thị P, sinh năm 1963.
3.10.Ông Dương Trung Phương A, sinh năm 1989.
3.11.Bà Nguyễn Thị Bạch T6, sinh năm 1997.
3.12.Dương Thị Hu nh Như, sinh năm 1996.
Cùng địa chỉ: ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ.
3.13.Ông Dương Trung X, sinh năm 1949.
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ.
3.14.Bà V Thị B ch Tiên, sinh năm 1978.
3.15.Bà V Thị B ch Ngân, sinh năm 1980.
3.16.Ông V Văn Khải, sinh năm 1982.
Cùng địa chỉ: ấp Trư ng B nh, x Trư ng Th ng, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.
3.17.Ông Dương Trung Pháo, sinh năm 1954.
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ.
3.18.Bà Dương Thị Tươi, sinh năm 1958 (chết . Ngư i th a kế quyền và ngh a vụcủa bà Dương Thị T8:
+Ông Nguyễn Văn Ngh a, sinh năm 1955.
+Ông Nguyễn Thanh B nh, sinh năm 1979.
+Ông Nguyễn Thanh Quân, sinh năm 1983.
+Ông Nguyễn Thanh Th ng, sinh năm 1984.
+Ông Nguyễn Thanh L i, sinh năm 1986.
Cùng địa chỉ: ấp Trư ng Đông A, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ.
3.19.Bà Dương Thị Hồng, sinh năm 1964.
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ.
3.20.Bà Dương Thị Thanh Hương, sinh năm 1967. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ.
3.21.Bà Dương Thị Thanh Nga, sinh năm 1969.
Địa chỉ: khu vực Trư ng Hòa, phư ng Trư ng Lạc, quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ. Địa chỉ liên hệ: ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ.
-Người kháng cáo: Ông Dương Trung Tlà bị ơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*T ong ơn khởi kiện của nguyên ơn là ng Nguy n H u Minh ngày
- -
ơn khởi kiện
ung ngày -10-2020 và các lời khai trong quá trình giải uyế án cũng như ại phiên tòa sơ hẩm nguyên ơn ình bày:
Phần đất của nguyên đơn tại thửa 1126, t bản đồ 01,tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơđ bị ông Dương Trung P1lấn chiếm diện tích 872,6m2. Vụ việc đã đư c Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm theo bản án số 156/2018/DSPT ngày 21-12-2018 (gọi t t là bản án số 156/2018), chấp nhận đơn khởi kiện của ông và buộc ông Dương Trung P1di d i cây trả lại ông diện tích 710,3m2. Tuy nhiên, trong quá trình thi hành án còn phát hiện ông Dương Trung Txây dựng trên phần đất lấn chiếm 01 nhà bếp ngang 3m, dài 3m; 01 nhà t m ngang 1,5m và dài 2m; 01 sàn nước và ao nuôi cá. V vậy, ông khởi kiện yêu cầu ông Ttháo dỡ nhà bếp, nhà t m, sàn nước, di d i ao nuôi cá và các vật kiến trúc khác trên đất của ông tại thửa 1126 để trả đất lại cho ông, do bản án số 156/2018 chỉ công nhận cho ông phần đất mà chưa giải quyết phần này.
Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn, ông Mkhông đồng ý vì phần đất tại thửa 998 và 999 ông nhận chuyển như ng t năm 1976 và phần đất tại vị tr nhà ông thuộc thửa 1126 ông ở t năm 1976 cho đến nay. Ông cũng đ đư c cấp giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất lần đầu năm 1993, đến năm 1998 cấp đ i lại.
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Mxác định đối với nhà bếp, nhà t m và sàn nước ông Tđ tháo dỡ và xây dựng nhà mới c n m trên đất ông th ông đồng ý nhận giá trị và yêu cầu ông Tdi d i cá trong ao trả lại đất cho ông.
*Theo ơn phản của ị ơn là ng Dương Trung Tngày 18-02-2020 à các lời khai ong uá ình giải uyế
án cũng như ại phiên tòa sơ thẩm ị ơn ình bày:
Ông không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn, đồng th i ông phản tố lại nguyên đơn với nội dung như sau:
Nguồn gốc đất của ông cốc là Nguyễn Hữu Kế (chết trước tiếp thu ; đất tọa lạc tại ấp Trư ng Đông A, x Tân Thới, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ theo số địa bộ 283, t bản đồ số 171, diện t ch đất vư n 1,76 hecta. Số địa bộ 454, số họa đồ 172, diện t ch 02 m u 96 sào để lại cho con trưởng nam là ông Nguyễn Hữu Vị (chết năm 1971 , bà nội ông là Nguyễn Thị Búp (chết năm 1980 là con gái của ông Nguyễn Hữu Kế, cha ông là ông Đinh Trung Tiều (chết năm 1969 và m là Phạm Thị Tư (chết 2014 . Trước năm 1959, ông Nguyễn Hữu Vị đ đ ng th a kế (c bản án . Năm 1960, ông Vị c ủy quyền lại cho cha m ông (là Đinh Trung Tiều và Phạm Thị Tư và gia đ nh lập khu mộ t năm 1969 c 06 cái mộ. Vào ngày 25/9/1976, ông Nguyễn Hữu Mở Cần Thơ về không c ch ở nên c nhận chuyển như ng phần đất vư n và nhà ở của m ông. Phần đất m ông chuyển như ng chỉ phần đất vư n cách cái mương sau khu mộ gia đ nh ông, kéo dài đến kh i khúc mộ bên ông M, ch không c đo đạc, khi nào đo đạc thiếu th m ông bù, dư th trả lại, còn 02 công ruộng th không c nhận tiền, v ông Mxin thêm. Đến năm 1983, c lệnh trang trải đất đai chia đều cho dân. Đất gia đ nh ông dư nên giao cho tập đoàn. Sau đ tập đoàn lấy chia cho nhiều ngư i, còn lại 01 công, m ông không giao mà để lại trồng lúa. Lúc đo đạc đất vư n dư nên c t diện t ch 840m2thành 02 b là 440m2 và 400m2 liền kề bên đất gia đ nh ông và nhà ông Mmà m ông chuyển như ng năm 1976 diện t ch chỉ c 110m2. Đến khi c lệnh trả lại đất th ông Mkhông chịu trả. Ngày 24/10/1990 m ông khiếu nại, sau đ ông Mc trả lại 440m2, còn lại 400m2ông Mkhông chịu trả.
Do đ , nguồn gốc đất tại thửa 1126 là của ông bà, cha m ông để lại, gia đ nh ông c giấy t th a hưởng và chính quyền đ giải quyết nhưng ông Mchưa trả mặt b ng cho gia đ nh ông diện t ch 400m2 còn đang tranh chấp và phần đất vư n tại thửa 998 và 999, m ông đã như ng cho ông Mvào năm 1976 t ng cộng là 2.600m2 chưa đo đạc trả lại cho gia đ nh ông, hiện tại 02 thửa này dư 438,6m2. Phần đất đang tranh chấp mà ông Mđư c cấp giấy ch ng nhận QSDĐ ngày 19/02/1993 là không đúng quy định pháp luật, không có thông báo, quyết định của cơ quan c thẩm quyền và gia đình ông không hay biết, không c đo đạc, không ai ký giáp ranh và phần đất thửa 1126 gia đình ông đang canh tác.
Nay yêu cầu ông Mtrả lại cho gia đ nh ông diện t ch 400m2 loại đất cây lâu năm, tại thửa 1126 mà ông Mchiếm đoạt t năm 1983 đến nay và vị tr hiện đang c nhà ông Mở trên đất. Yêu cầu Tòa án công nhận cho ông M2.600m2đất vư n tại thửa 998 và 999 theo t như ng đất ngày 25/9/1976, phần còn dư trả lại cho gia đ nh m ông. Cha m c các con gồm: Dương Trung X; Dương Thị Tàu (chết năm 2008 , c con là V Thị B ch Tiên, V Thị B ch Ngân và V Văn Khải; Dương Trung Pháo; Dương Thị Tươi (chết ngày 29/6/2021 c chồng là Nguyễn Văn Ngh a, c con là Nguyễn Thanh B nh, Nguyễn Thanh Quân, Nguyễn Thanh Th ng và Nguyễn Thanh L i; Dương Thị Hồng; Dương Thị Thanh Hương; Dương Thị Thanh Nga và ông (là Dương Trung T).
Theo l i khai của ông Nguyễn Hữu Minh – Đại diện theo ủy quyền của anh Nguyễn Xuân Thịnh và Nguyễn Ngọc Hân cùng thống nhất theo l i tr nh bày ông.
Theo chị Nguyễn Thị Ngọc Ngà và anh Hồ Trung T n cùng thống nhất theo l i tr nh bày của ông M.
Theo l i khai của ông Dương Trung X, ông Dương Trung Pháo, bà Dương Thị TH2, bà Dương Thị Hồng, bà Dương Thị TNga, ông Nguyễn Văn Ngh a, Nguyễn TL i, Nguyễn Thanh Th ng, Nguyễn TQuân, Nguyễn Thanh B nh, V Thị B ch Tiên, V Thị B ch Ngân, V Văn Khải, Dương Thị Bạch Tuyết – Đại diện là bà H2, cùng thống nhất theo tr nh bày của ông T.
Theo l i khai của Dương Trung Phương Atr nh bày: Chị là con của ông Dương Trung T. Nguồn gốc đất tranh chấp là của ông bà để lại cho ông Tcanh tác n định cho đến nay. Chị không đồng ý yêu cầu của ông Mvề việc tháo dỡ di d i nhà bếp, nhà t m, ao cá, v yêu cầu của ông Mlà không đúng và chị để cho ông Ttoàn quyền quyết định.
-Tại bản án dân sự sơ thẩm số 53/2022/DS-ST ngày 10 tháng 11 năm 2022, Tòa án nhân dân huyện Phong Điền đ tuyên xử:
1/Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Nguyễn Hữu Minh.
Buộc ông Dương Trung Tdi d i cá trong ao tại thửa 1126, t bản đồ 01; tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơđể trả lại quyền sử dụng đất cho nguyên đơn.
n định cho ông Dương Trung Tdiện t ch 53,9m2 c nhà n m trên đất tại thửa 1126, t bản đồ 01; tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ.
(K m theo bản tr ch đo địa chính số 80/TTKTTNMT ngày 23-9-2022 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trư ng thuộc Sở tài nguyên và môi trư ng thành phố Cvà sơ đồ hiện trạng .
Buộc ông Dương Trung Ttrả lại giá trị đất cho ông Nguyễn Hữu Minh với số tiền 24.255.000đ (Hai mươi bốn triệu hai trăm năm mươi lăm ngàn đồng .
2/Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn là ông Dương Trung T, về việc yêu cầu Tòa án công nhận cho nguyên đơn diện tích 2.600m2 tại thửa 998 và 999, phần còn lại trả cho bị đơn và diện t ch 400m2 tại vị tr nhà nguyên đơn thuộc thửa 1126, tở bản đồ số 01; tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ.
3/ Về chi ph tố tụng:
T ng chi phí tố tụng là 15.000.000đ. Yêu cầu phản tố của bị đơn không đư c chấp nhận nên phải chịu toàn bộ chi ph tố tụng là 15.000.000đ (Mư i lăm triệu đồng .
Buộc ông Ttrả lại cho ông Mtiền tạm ng chi ph tố tụng là 4.000.000đ (Bốn triệu đồng khi án c hiệu lực.
Kể t ngày c đơn yêu cầu thi hành án của ngư i đư c thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền l i của số tiền còn phải thi hành án theo m c l i suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
Kiến nghị Cơ quan c thẩm quyền điều chỉnh giấy ch ng nhận QSDĐ của nguyên đơn và cấp giấy ch ng nhận QSDĐ cho bị đơn cho phù h p với phần quyết định của bản án.
4/ Án phí dân sự sơ thẩm:
Miễn tiền án ph dân sự sơ thẩm cho ông Dương Trung Tdo thuộc diện ngư i cao tu i.
Trả lại cho ông Ttiền tạm ng án ph sơ thẩm 1.200.000đ (Một triệu hai trăm ngàn đồng theo biên lai số AA/2019/017332 ngày 19/02/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ.
Nguyên đơn cũng đã đư c miễn nộp tạm ng án phí dân sự sơ thẩm do thuộc diện ngư i cao tu i.
Bản án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo của các bên theo luật định.
Tại đơn kháng cáo đề ngày 21/11/2022 và đơn kháng cáo b sung đề ngày 30/112023, bị đơn cho r ng, bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn và không chấp yêu cầu phản tố của bị đơn là không đúng pháp luật, đề nghị Tòa án phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn giữ nguyên kháng cáo. Nguyên đơn không đồng ý với kháng cáo của bị đơn. Các bên không thương lư ng đư c việc giải quyết vụ án.
Quan điểm của Luật sư bảo vệ cho bị đơn cho r ng, việc cho r ng thửa 1126 thuộc nguyên đơn đã đư c giải quyết b ng bản án phúc thẩm trước đây là không đúng vì đối với thửa 1126 nguyên đơn chưa đăng ký. Theo hồ sơ, nguyên đơn chỉ đăng ký quyền sử dụng đất 03 thửa trong đ c thửa 1125 mà không có thửa 1126. Việc phản tố đòi lại phần đất còn lại tại thửa 998 và 999 của bị đơn là c căn c vì các bên đã xác định nguồn gốc đất thuộc gia đ nh bị đơn. Hồ sơ thể hiện có việc giả chữ ký của ph a nguyên đơn để đăng ký đất đai. Hồ sơ cấp giấy ch ng nhận quyền sử dụng của nguyên đơn không c đo đạc thực tế. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo và yêu cầu phản tố của bị đơn.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tại phiên tòa:Ngư i tiến hành tố tụng, ngư i tham gia tố tụng đ chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, đối với phần đất nguyên đơn khởi kiện để yêu cầu bị đơn di d i tài sản. Phần diện t ch đất này đã đư c Bản án số 156/2018/DS-PT ngày 21/12/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xác định thuộc quyền sử dụng của nguyên đơn nên yêu cầu của nguyên đơn là c căn c . Bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp đư c tài liệu ch ng minh quyền sử dụng đất. Bị đơn cũng không ch ng minh đư c về việc hoàn lại diện tích ngoài giấy chuyển như ng trước đây. Trong quá trình giải quyết tranh chấp của vụ án trước đây, bị đơn cũng là đương sự trong vụ án đ nhưng bị đơn cũng không kháng cáo. Nguyên đơn sử dụng đất t năm 1976 đủ điều kiện công nhận quyền sử dụng đất. Do vậy, yêu cầu kháng cáo của bị đơn là không c căn c . Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
1 Theo đơn khởi kiện và các ch ng c đ thẩm tra cho thấy các bên tranh chấp quyền sử dụng đất. Tòa án nhân dân huyện Phong Điền đ thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền và xác định đúng quan hệ tranh chấp theo quy định tại 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
2 Bản án phúc thẩm số 156/2018/DS-PT ngày 21/12/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ đ c hiệu lực pháp luật theo đ quyền sử dụng đất tại thửa 11262 của Bản Tr ch đo địa chính số 51/TTKTTNMT ngày 21/11/2017 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trư ng thành phố Cần Thơ là thuộc quyền sử dụng đất của nguyên đơn. Đây cũng là phần đất tương ng phần đất tại vị tr (B thửa 1126 theo bản tr ch đo số 80/TTKTTNMT ngày 23/9/2022 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trư ng thành phố Cần Thơ (Bản tr ch đo phục vụ cho việc giải quyết tranh chấp vụ án này . Đây là t nh tiết, sự kiện không phải ch ng minh theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự. V vậy, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lại quyền sử dụng đất tại thửa 1126 là c cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 166 Luật đất đai và Điều 166 Bộ luật dân sự.
3 Tại phiên tòa phúc thẩm, ph a ngư i bảo vệ cho bị đơn cho r ng các bên tranh chấp tại thửa 1126, trong khi đ , trong hồ sơ mà nguyên đơn kê khai đăng ký cấp giấy là thửa 1125 nên không liên quan phần tranh chấp. Theo Bản Trích đo địa chính số 51/TTKTTNMT ngày 21/11/2017 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trư ng thành phố Cần Thơ th thửa 1125 thuộc quyền sử dụng của gia đ nh bị đơn. Việc ghi sai sót về việc ghi nhầm thửa 1125 và thửa 1126 đã đư c nhận định tại Bản án số 156/2018/DS-PT ngày 21/12/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ. Hiện trạng sử dụng đã đư c các bên xác định tại các Bản tr ch đo địa chính số 51/TTKTTNMT và số 80/TTKTTNMT nêu trên. Do vậy, quyền sử dụng đất và hiện trạng thửa 1126 đã đư c xác định trong Bản án số 156/2018/DS-PT ngày 21/12/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ và các Bản tr ch đo địa chính kèm theo nên quan điểm của Luật sư về vấn đề này là không có cơ sở.
4 Trong quá tr nh giải quyết vụ án, bị đơn tự ý xây dựng công tr nh trên đất, lẽ ra phải buộc tháo dỡ để đảm bảo quyền h p pháp của nguyên đơn theo quy định tại Điều 166 Luật đất đai và Điều 166 Bộ luật dân sự. Tuy nhiên, nguyên đơn đồng ý nhận giá trị quyền sử dụng đất tương ng phần nhà bị đơn đ xây dựng là quyền tự định đoạt và có thiện chí giải quyết tranh chấp của nguyên đơn. Tòa án cấp sơ thẩm ghi nhận và tính toán giá trị hoàn lại là c cơ sở.
5 Đối với việc phản tố đòi lại phần còn lại của thửa đất 998 và 999 của bị đơn, thấy r ng, phần đất này nguyên đơn đ canh tác liên tục t 1976. Quá tr nh sử dụng đất, gia đ nh bị đơn sử dụng liền kề. Các bên đã đăng ký quyền sử dụng đất và đư c cấp giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất cùng th i điểm mà không c tranh chấp. Trong quá tr nh giải quyết tranh chấp vụ án trước đây, ông Tcũng là đương sự nhưng ông không phản đối về quyền sử dụng đất của ông Mtại các thửa đất này. Bị đơn cũng không c tài liệu ch ng minh quyền sử dụng đất của mình đối với một phần đất của các thửa 998 và 999. Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của bị đơn là c căn c .
6 T những nhận định trên cho thấy, bản án sơ thẩm đ xét xử là đúng pháp luật. Yêu cầu kháng cáo của bị đơn là không c cơ sở chấp nhận. Do vậy, việc giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của Viện kiểm sát là đúng pháp luật.
7 Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn là ngư i cao tu i đư c miễn án ph theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc hội quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ phí Tòa án.
V các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn c khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Giữ nguyên bản án sơ thẩm
1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
-Buộc ông Dương Trung Tdi d i cá trong ao tại thửa 1126, t bản đồ 01,tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơđể trả lại quyền sử dụng đất cho nguyên đơntại thửa 1126 theo Bản tr ch đo số 80/TTKTTNMT ngày 23/9/2022 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trư ng thành phố Cần Thơ.
-ÔngDương Trung Tđư c quyền sử dụng phần đất c diện t ch 53,9m2(phần tương ng của một phần căn nhà của ông Tđ xây dựngn m trên đất tại thửa 1126, t bản đồ 01, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ. (Vị tr đư c xác định theo Sơ đồ hiện trạng - Bút lục số 468 kèm theo).
-Buộc ông Dương Trung Ttrả lại giá trị đất cho ông Nguyễn Hữu Minh với số tiền 24.255.000đ (Hai mươi bốn triệu hai trăm năm mươi lăm ngàn đồng .
-Việc đăng ký biến động ký đất đai theo bản án đư c thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai.
2.Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn về việc yêu cầu:
-Buộc nguyên đơn phải trả cho bị đơn phần đất có diện tích 438,6m2tại thửa 998 và 999, t bản đồ số 01, tại ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ.
-Buộc nguyên đơn phải trả cho bị đơn phần đất có diện tích 400m2thuộc thửa 1126, t bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ.
3.Về chi ph tố tụng: Bị đơn c ngh a vụ hoàn lại cho nguyên đơn 4.000.000đ (Bốn triệu đồng .
4.Án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn đư c nhận lại tiền tạm ng án ph 1.200.000đ (Một triệu hai trăm ngàn đồng theo biên lai số AA/2019/017332 ngày 19/02/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ.
5.Không ai phải chịu án ph dân sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm c hiệu lực pháp luật kể t ngày tuyên án.
Trong trư ng h p bản án đư c thi hành theo qui định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì ngư i đư c thi hành án dân sự, ngư i phải thi hành án dân sự có quyền th a thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; th i hiệu thi hành án đư c thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND thành phố Cần Thơ; - TAND huyện Phong Điền; - Chi cục THADS huyện Phong Điền; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Chế Linh |