vanban.org

Bản án 236/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 29/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Lê Thanh T phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Xử phạt bị cáo Lê Thanh T 10 (mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/02/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "le thanh t - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (điều 341 Luật…"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 260 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THUẬN AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƯƠNG
Bản án số: 236/2022/HS-ST
Ngày: 29 - 8 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Tố Uyên

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Ngọc Phương

2. Ông Lê Văn Công

- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Phạm Thanh Trang, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Sỹ - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2022. tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 233/2022/TLST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 251/2022/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:

Lê Thanh T, sinh năm 1996 tại tỉnh Bình Dương; địa chỉ thường trú: khu

phố T3, phường T1, thành phố T2, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; cha (không biết); mẹ tên Lê Thị Thủy, sinh năm 1954; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Ngày 22/10/2015, bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Thuận An, tỉnh Bình Dương xử 07 năm 06 tháng tù về tội Cướp tài sản, 04/02/2020 chấp hành xong hình phạt tù; tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 19/02/2022, có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Vũ Thành Đ, sinh năm 1995; địa chỉ: Tổ 3A, khu phố 4, thị trấn Đ1, huyện Đ2, tỉnh Đ3. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 07 giờ 30 phút ngày 03/8/2021, Lê Thanh T, điều khiển xe mô tô biển số 59L2-774.28 đi từ công ty Hoàng Minh Food đến chung cư Ehome 4, thuộc khu phố Hòa Long, phường T1, thành phố T2, Bình Dương để lấy đồ thực phẩm. Khi T điều khiển xe trên đường Quốc lộ 13 đến đoạn tiếp giáp với đường Vĩnh Phú 41 thì bị Tổ gác chốt của Công an phường Vĩnh Phú kiểm tra giấy tờ liên quan đến công tác phòng chống dịch bệnh Covid-19, lúc này T xuất trình 01 Chứng minh nhân dân mang tên Lê Thanh T và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số: 59L2-774.28, nghi vấn Giấy chứng minh nhân dân và Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 59L2-774.28 là giấy giả nên Tổ công tác đã đưa T về Công an phường Vĩnh Phú để làm việc theo quy định.

Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An xác định:

Vào khoảng tháng 7/2020, Lê Thanh T đi giao hàng cho Công ty thực phẩm H tại thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương trên đường về đến khu vực xã An Tây, thị xã Bến Cát thì xảy ra va chạm giao thông với xe ô tô màu trắng loại 04 chỗ (không nhớ biển số) do người tên Phương (không rõ nhân thân, địa chỉ) điều khiển và bị rơi bóp tại khu vực xảy ra tai nạn nên mất hết giấy tờ tùy thân. Lúc này, T gọi điện cho người bạn của T tên Trung (không rõ nhân thân, địa chỉ) đến hiện trường vụ tai nạn và cùng người tên Phương đưa T vào bệnh viện (không nhớ tên) ở khu vực thị xã Bến Cát để điều trị vết thương. Tại đây, Bệnh viện yêu cầu phải có Giấy chứng minh nhân dân thì mới cho T nhập viện, do Giấy chứng minh nhân dân bản chính của T đã bị mất và chỉ còn bản phôtô để ở phòng trọ của Trung (do trước đó T có để tại phòng trọ của Trung) nên T nhờ Trung quay về phòng trọ của Trung để lấy 01 bản giấy chứng minh nhân dân phô tô của T rồi đưa cho ông Phương để ông Phương làm thủ tục nhập viện cho T. T điều trị ở bệnh viện được 03 ngày thì xuất viện. Khi xuất viện thì ông Phương đã đến đóng tiền viện phí cho T và đưa cho T một bịch thuốc gói trong túi nylon, về đến nhà T mở bịch thuốc ra thấy có 01 chứng minh nhân dân mang tên Lê Thanh T, T nhận thức được Giấy chứng minh nhân dân mang tên Lê Thanh T này là giả nhưng vẫn mang theo trong người để sử dụng.

Đối với nguồn gốc xe và giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô Exciter gắn biển số 59L2-774.28, T khai nhận: Vào khoảng tháng 6/2021 do có nhu cầu muốn đổi xe nên T có lên mạng xã hội tìm kiếm thì thấy có bài viết đăng hình ảnh xe mô tô Exciter gắn biển số 59L2-774-28 cần đổi xe tay ga có thương lượng. Thời điểm này, T đang sử dụng xe tay ga Click biển số 54Y2-6191 nên T đã liên hệ bằng Facebook với người thanh niên (chưa rõ nhân thân, địa chỉ) để thỏa thuận trao đổi xe mô tô Exciter trên. Sau đó người thanh niên trên đã đồng ý đổi xe với T và hẹn T ra ngã tư Bình Phước để trao đổi xe. T đã giao xe Click biển số 54Y2-6191 và giấy chứng nhận đăng ký xe cho người thanh niên này, đồng thời T nhận xe mô tô Exciter gắn biển số 59L2-774.28 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 59L2-774.28 kèm theo (do xe Exciter đã cũ và máy xe bị kêu nên người thanh niên này đã bù cho T số tiền 1.000.000 đồng để sửa xe). Trong quá trình sử dụng xe, T không biết Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô này là giả do thấy biển số 59L2-774.28 ghi trong giấy chứng nhận đăng ký xe trùng với biển số đang gắn trên xe mô tô Exciter.

Vật chứng thu giữ:

- 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha, loại xe Exciter có số khung: RLCE1S9A0DY054742, số máy: 1S9A054752 gắn biển số: 59L2-774.28;

- 01 (một) giấy chứng minh nhân dân số: 281128294, mang tên “Lê Thanh T”, sinh năm: 1996, HKTT: khu phố Tây, Vĩnh Phú, Thuận An, Bình Dương, đề ngày 10/02/2020;

- 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số: 105830, mang tên “Quỳnh Thanh Tuấn”, địa chỉ: 66/Đường 270/Cao Lỗ, phường 4, quận 8, đề ngày 15/8/2020.

Tại Bản kết luận giám định số 351/GĐ-PC09 ngày 18/6/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, kết luận:

- 01 (một) giấy chứng minh nhân dân số: 281128294, mang tên “Lê Thanh T”, sinh năm: 1996, HKTT: khu phố Tây, Vĩnh Phú, Thuận An, Bình Dương, đề ngày 10/02/2020 là giả bằng phương pháp in phun màu điện tử;

- Phôi và hình dấu tròn có nội dung “* CÔNG AN TP. HỒ CHÍ MINH * CÔNG AN QUẬN 8” trên một (01) “Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy” số: 105830, mang tên “Quỳnh Thanh Tuấn”, địa chỉ: 66/Đường 270 Cao Lỗ, P4, Q8, đề ngày 15/8/2020 là giả bằng phương pháp in phun màu điện tử.

Bản Cáo trạng số 229/CT-VKS -TA ngày 02 tháng 8 năm 2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Lê Thanh T về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại Khoản 1, Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

- Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng Khoản 1, Điều 341, Điểm s Khoản 1, Điều 51; Điểm h, Khoản 1, Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Lê Thanh T mức án từ 10 tháng đến 12 tháng tù.

Đồng thời đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

- Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, thống nhất tội danh, khung hình phạt mà Viện kiểm sát đã truy tố, không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm hòa nhập cộng đồng, làm người công dân tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không khiếu nại, tố cáo về các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Lời khai nhận của bị cáo Lê Thanh T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Vào ngày 03/8/2021, tại chốt gác của Công an phường Vĩnh Phú trên Quốc lộ 13 đoạn tiếp giáp với đường Vĩnh Phú 41, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, Lê Thanh T đã có hành vi sử dụng tài liệu giả là 01 “Giấy chứng minh nhân dân số: 281128294, mang tên “Lê Thanh T”, sinh năm: 1996, HKTT: khu phố Tây, Vĩnh Phú, Thuận An, Bình Dương, đề ngày 10/02/2020 để xuất trình cho lực lượng công an kiểm tra thì bị phát hiện bắt giữ cùng vật chứng. Theo Kết luận giám định số 351/GĐ-PC09 ngày 18/6/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương thì Chứng minh nhân dân nêu trên được làm giả bằng phương pháp in phun màu điện tử. Chứng minh nhân dân này do đối tượng tên Phương tự ý sử dụng chứng minh nhân dân của bị cáo T để làm giả, bị cáo T sau khi được đối tượng Phương đưa sử dụng thì biết là chứng minh nhân dân giả nhưng vẫn cất giữ sử dụng. Hành vi trên của bị cáo T đã đủ yếu tố cấu thàng tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo Khoản 1, Điều 341 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Do đó, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đã truy tố bị cáo T về tội danh, khung hình phạt nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính, xâm phạm đến sự hoạt động bình thường và uy tín của các Cơ quan Nhà nước, tổ chức. Bị cáo nhận thức được hành vi sử dụng tài liệu giả xuất trình cho lực lượng chức năng kiểm tra là vi phạm pháp luật nhưng vì tư lợi cá nhân, bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Do đó, xét thấy cần phải có mức án tương xứng với hành vi phạm tội để răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Tuy vậy, khi quyết định hình phạt cần xem xét đầy đủ về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xem xét cho bị cáo mức án tương xứng với hậu quả hành vi của bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 22/10/2015, bị cáo T bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội Cướp tài sản, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/02/2020 nhưng chưa được xóa án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên thuộc trường hợp tái pháp theo quy định tại Điểm h, Khoản 1, Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại Điểm s, Khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Đối với hành vi sử dụng 01 “Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy” số: 105830, mang tên “Quỳnh Thanh Tuấn” là tài liệu giả của Lê Thanh T, quá trình điều tra bị cáo T khai nhận khi trao đổi xe mô tô đã có sẵn, T không biết là tài liệu giả nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xử lý T về hành vi Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức.

Đối với thông tin người tên “Quỳnh Thanh Tuấn”, địa chỉ: 66, đường 270 Cao Lỗ, P4, Q8, đề ngày 15/8/2020 đứng tên trên “Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy” số: 105830, quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đã tiến hành xác minh nhưng không có người tên Quỳnh Thanh Tuấn như thông tin địa chỉ nêu trên nên không có cơ sở xử lý.

Đối với người đã làm giả “Giấy chứng minh nhân dân” cho T, quá trình điều tra Cơ quan điều tra Công an thành phố Thuận An đã tiến hành xác minh nhưng không đủ thông tin về lai lịch đối tượng nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh xử lý sau.

Đối với biển số 59L2-774.28, qua tra cứu phương tiện giao thông cơ

giới đường bộ xác định chủ sở hữu là bà Phạm Thị Diễm, địa chỉ: Tổ 4, Nghĩa Đức, thị trấn Thạnh Mỹ, huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng. Tuy nhiên, quá trình điều tra xác định bà Diễm hiện nay không còn cư trú tại địa chỉ trên và chuyển đi đâu địa phương không nắm được nên cơ quan điều tra chưa làm việc được với bà Diễm.

Đối với xe mô tô hiệu Yamaha, loại xe Exciter có số khung:

RLCE1S9A0DY054742, số máy: 1S9A054752 quá trình điều tra xác định ông Vũ Thành Đ là chủ sở hữu xe, ông Đ cho biết xe mô tô trên được Công an huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai cấp biển số 60B9-263.33. Vào khoảng tháng 10/2020, ông Đ dựng xe mô tô trên trước nhà và bị kẻ gian lấy trộm mất. Sau đó, ông Đ đã đến trình báo tại Công an thị trấn Vĩnh An, huyện Vĩnh Cửu để được giải quyết. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đã thông tin tội phạm và chuyển chiếc xe mô tô trên cùng với biển số 59L2-774.28 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai để xử lý theo quy định của pháp luật là có căn cứ.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) giấy chứng minh nhân dân và 01 (một) “Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy” là tài liệu giả, là vật chứng đi kèm hồ sơ nên tiếp tục lưu hồ sơ vụ án.

Lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về hình phạt đối với bị cáo cũng như phần xử lý vật chứng là có cơ sở, phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1, Điều 341; Điểm s Khoản 1, Điều 51; Điểm h, Khoản 1, Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

- Các Điều 136, 260, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

- Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Lê Thanh T phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

Xử phạt bị cáo Lê Thanh T 10 (mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/02/2022.

2. Về xử lý vật chứng:

Lưu giữ theo hồ sơ vụ án 01 (một) giấy chứng minh nhân dân số: 281128294, mang tên “Lê Thanh T”, sinh năm: 1996, HKTT: khu phố Tây, Vĩnh Phú, Thuận An, Bình Dương, đề ngày 10/02/2020 và (01) một “Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy” số: 105830, mang tên “Quỳnh Thanh Tuấn”, địa chỉ: 66/Đường 270 Cao Lỗ, P4, Q8, đề ngày 15/8/2020.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lê Thanh T phải nộp 200,000 đồng.

4. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ