- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? C n c các i u , , , , ,
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ M | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN G Bản án số: 236/2022/HNGĐ-ST Ngày: 29/8/2022 “V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ M, TỈNH AN G
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Châu Vũ Sơn.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Lâm Sơn.
2. Bà Nguyễn Thị Ly.
Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Thị Yên, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Chợ M, tỉnh An G.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ M, tỉnh An G tham gia
phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Lợi – Kiển sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ M xét
xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 526/2022/TLST-
HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2022 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình ly
hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
419/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 7 năm 2022 và Quyết định hoãn
phiên tòa 387/2022/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 8 năm 2022, giữa các đương
sự:
1. Nguyên đơn: Chị Thái Thị H, sinh năm 1990; địa chỉ: tổ 20, ấp Hưng
Thạnh, xã Đào Hữu C, huyện Châu P, tỉnh An G; có mặt.
2. Bị đơn: Anh Trần Tuấn Thanh, sinh năm 1989; địa chỉ: ấp Thị 2, thị
trấn Mỹ L, huyện Chợ M, tỉnh An G; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án
và tại phiên tòa nguyên đơn chị Thái Thị H trình bày, sau thời gian tự tìm hiểu
chị và anh Thanh được cha mẹ hai bên tổ chức lễ cưới vào năm 2010 vợ chồng
có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đào Hữu C, huyện Chợ M, tỉnh An
G. Vợ chồng sống chung đôi lúc cũng hay cãi vã, nguyên nhân phát sinh mâu
thuẫn sống không tình cảm, bất đồng quan điểm, anh Thanh không lo làm ăn lo cho vợ con, chị có khuyên nhưng anh Thanh không sửa đổi, vợ chồng không còn sống chung từ cuối năm 2020 cho đến nay. Nay nhận thấy tình cảm không còn, chị yêu cầu ly hôn với anh Thanh.
Về con chung: Trong thời gian chung sống, vợ chồng có sinh 02 con chung
tên Trần Quốc Hào, sinh ngày 29/3/2010, Trần Ngọc Thảo, sinh ngày 14/12/2015 hiện nay sống chung với chị H, khi ly hôn chị H yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung, chị không yêu cầu anh Thanh phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị H xác định vợ chồng không có.
Về nợ chung: Chị H xác định vợ chồng không có.
Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng minh cho ý kiến, yêu
cầu khởi kiện: Giấy chứng minh nhân dân, hộ khẩu gia đình, giấy chứng nhận kết hôn số 41 ngày 28.4.2013 do Ủy ban nhân dân xã Đào Hữu C, huyện Châu P, tỉnh An G cấp; Giấy khai sinh của Trần Quốc Hào, Trần Ngọc Thảo (bản sao).
Tại phiên tòa,
- Nguyên đơn trình bày ý kiến, yêu cầu như đã cung cấp trong giai đoạn
chuẩn bị xét xử. Ngoài các tài liệu, chứng cứ đã cung cấp cho Tòa án, chị H không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để cung cấp thêm.
- Bị đơn vắng mặt không có ý kiến.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án
trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn
đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71, 234 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Ý kiến giải quyết vụ án:
Về hôn nhân: Chị Thái Thị H và anh Trần Tuấn Thanh do quen biết, tự
tìm hiểu nhau và tự nguyện tiến tới hôn nhân năm 2010, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đào Hữu C, huyện Châu P, tỉnh An G nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Vợ chồng chung sống đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, thời gian chung sống thường xảy ra cự cãi, bất đồng quan điểm, anh Thanh không lo làm ăn, chăm sóc vợ con và đã ly thân từ đó đến nay. Nhận thấy, tình cảm không còn nên chị H yêu cầu ly hôn với ông Thanh.
Xét thấy, thời gian xảy ra mâu thuẫn từ năm 2020 đến nay đã lâu nhưng
chị H và anh Thanh không thể giải quyết được, vợ chồng không tạo điều kiện
hàn gắn. Anh Thanh không có ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của chị H và chị H
xác định không còn tình cảm và kiên quyết ly hôn, mục đích hôn nhân không đạt
nên căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của
chị H đối với anh Thanh.
Về con chung: Có 02 con chung tên Trần Quốc Hào, sinh ngày 29/3/2010
và Trần Ngọc Thảo, sinh ngày 14/12/2015, hiện 02 con chung đang sống cùng
chị H. Khi ly hôn, chị H yêu cầu nuôi 02 cháu Hào, Thảo, không yêu cầu anh
Thanh cấp dưỡng nuôi con chung.
Xét thấy, việc giao con chung trong trường hợp không thỏa thuận được thì
Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về
mọi mặt của con. Mặt khác, cả 02 cháu Hào, Thảo đang được chị H chăm sóc
phát triển tốt về thể chất và tinh thần, đều có nguyện vọng được tiếp tục sống
cùng chị H, phía anh Thanh không có ý kiến đối với việc chăm sóc con chung
nghĩ nên cần ổn định cuộc sống cho cháu Hào, cháu Thảo, tiếp tục để chị H
chăm sóc, nuôi dưỡng. Do chị H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không
đề cập đến.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Từ những phân tích nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56,
81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Thái Thị H đối với anh Trần Tuấn
Thanh.
Chị Thái Thị H được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung Trần
Quốc Hào, sinh ngày 29/3/2010 và Trần Ngọc Thảo, sinh ngày 14/12/2015. Anh
Trần Tuấn Thanh không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Chị Thái Thị H khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Trần Tuấn Thanh cư trú
ấp Thị 2, thị trấn Mỹ Lông, huyện Chợ M. Xét đây là tranh chấp về hôn nhân và
gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ M theo
quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều
39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự: Anh Trần Tuấn Thanh đã được triệu tập
hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử
tiến hành xét xử vắng mặt anh Thanh theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều
227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về hôn nhân:
Chị Thái Thị H và anh Trần Tuấn Thanh tự nguyện kết hôn và có đăng ký
kết hôn theo quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh Thanh là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Xét thấy, xuất phát từ mâu thuẫn trong thời gian chung sống, chị H, anh
Thanh thường xuyên cãi vã, bất đồng quan điểm, anh Thanh không lo làm ăn lo cho vợ con, chị có khuyên nhiều lần nhưng anh vẫn không sửa đổi và không còn sống chung khoảng 02 năm. Vợ chồng không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, không tình cảm. Cho nên, có căn cứ xác định mâu thuẫn giữa chị H và anh Thanh là trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H đối với anh Thanh theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về con chung: Chị Thái Thị H xác định trong thời gian chung sống,
vợ chồng có sinh 02 con chung tên Trần Quốc Hào, sinh ngày 29/3/2010, Trần Ngọc Thảo, sinh ngày 14/12/2015, hiện nay cháu Hào, cháu Thảo sống chung với anh Thanh, khi ly hôn chị H yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung.
Xét thấy, việc giao con chưa thành niên cho vợ hay chồng chăm sóc, nuôi
dưỡng, cần xem xét đến điều kiện phát triển và nguyện vọng của con chung. Từ khi ly thân đến nay, cháu Hào, cháu Thảo sống với chị H, các cháu vẫn phát triển bình thường về thể chất và tinh thần. Mặt khác, tại biên bản ghi nhận ý kiến cháu Hào, cháu Thảo thì các cháu có nguyện vọng sống chung với chị H. Để đảm bảo ổn định cuộc sống cho cháu Hào, cháu Thảo, Hội đồng xét xử nghĩ nên tiếp tục giao cháu Hào, cháu Thảo cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con chung, do chị H không yêu cầu anh Thanh cấp
dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị H xác định không yêu cầu Tòa
án xem xét, giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân
sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị H phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Anh Trần Tuấn Thanh không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
C n c các i u , , , , ,
uật H n nhân và ia đình n m
0 ; các i u , 7, 227, 228, 235, 7 Bộ luật T tụng dân sự n m 0 ;
đi m a khoản
i u 7 Nghị quyết
0
BTV H ngày 0 tháng
n m 0 của y an th ờng vụ qu c hội quy định v m c thu, mi n, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Thái Thị H.
1. Về hôn nhân: Chị Thái Thị H được ly hôn với anh Trần Tuấn Thanh.
Giấy chứng nhận kết hôn số 41 ngày 28/4/2013 do Ủy ban nhân dân xã
Đào Hữu C, huyện Châu P, tỉnh An G cấp cho chị Thái Thị H, anh Trần Tuấn
Thanh không còn giá trị pháp lý.
2. Về con chung:
Chị Thái Thị H được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục cháu Trần
Quốc Hào, sinh ngày 29/3/2010, Trần Ngọc Thảo, sinh ngày 14/12/2015. Anh
Trần Tuấn Thanh không phải cấp dưỡng nuôi con.
Chị Thái Thị H cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở
anh Trần Tuấn Thanh trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục
con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có
thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc
cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
3. Về tài sản chung: Chị Thái Thị H xác định không yêu cầu Tòa án xem
xét, giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
4. Về nợ chung: Chị Thái Thị H xác định không có nên Hội đồng xét xử
không xem xét giải quyết.
Ghi nhận chị H xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn
có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ
chung của chị H, anh Thanh trong thời kỳ hôn nhân thì anh, chị phải liên đới
chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
5. Về án phí sơ thẩm:
Chị Thái Thị H phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 00 000 a tr m
nghìn) đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 00 000 a tr m nghìn)
đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004721 do Chi
cục Thi hành án dân sự huyện Chợ M, tỉnh An G cấp ngày 06 tháng 6 năm 2022;
Chị Thái Thị H đã nộp đủ án phí.
Anh Trần Tuấn Thanh không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
6. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, chị Thái Thị H có quyền kháng
cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An G xét xử Pc thẩm.
Riêng thời hạn kháng cáo của anh Trần Tuấn Thanh được tính là 15 ngày
kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
Tr ờng hợp ản án, quyết định đ ợc thi hành theo quy định tại i u
uật Thi hành án dân sự thì ng ời đ ợc thi hành án dân sự, ng ời phải thi hành án dân sự có quy n thoả thuận thi hành án, quy n yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc ị c ỡng chế thi hành án theo quy định tại các i u , 7 và 9 uật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án đ ợc thực hiện theo quy định tại i u 0 uật thi hành án dân sự
| Nơi nhận: - VKSND huyện Chợ M (2); - TAND tỉnh An G (1); - Chi cục THADS huyện Chợ M (1); - UBND xã Đào Hữu C, huyện Chợ M, tỉnh An G (1); - Các đương sự; - Lưu hồ sơ (1); - Lưu văn phòng (1). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Châu Vũ Sơn |