vanban.org

Bản án 236/2022/DS-ST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Hồ Ngọc S – buộc anh Võ Quốc H có nghĩa vụ bồi thường cho anh S tổng số tiền 60.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định kh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Anh Sơn kiện anh H yêu cầu bồi thường sức khỏe bị xâm phạm"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Hồ Ngọc S – buộc anh Võ Quốc H có nghĩa vụ bồi thường cho anh S tổng số tiền 60.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 236/2022/DS-ST
Ngày: 21 – 9 – 2022
“V/v tranh chấp về bồi thường
thiệt hại về sức khoẻ”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hứa Minh Hải

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Văn Tới

2. Ông Nguyễn Vũ Bằng

- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Minh Chiến, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Cà Mau.

Ngày 21 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Cà Mau, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 375/2022/TLST-DS ngày 21 tháng 7 năm 2022 về viê ̣c tranh chấp về bồi thường thiệt hại về sức khoẻ, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 205/2022/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Hồ Ngọc S, sinh năm: 1982 (có mặt).

Địa chỉ: Khóm 5, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Anh Võ Quốc H, sinh năm: 2001 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp Lung Thuộc, xã LA, huyện T, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện ngày 06/7/2022, đơn khởi kiện bổ sung ngày 12/9/2022 và tại phiên tòa , nguyên đơn anh Hồ Ngọc S trình bày: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 19/4/2022, anh điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 69N1-275.31 chở theo con gái là Hồ Phượng L đi từ hướng Bệnh viện đa khoa huyện T để quẹo lên dốc cầu Rạch Ráng. Khi đến dốc cầu thì va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 69M1-3389 do Võ Quốc H điều khiển. Vụ va chạm xảy ra làm cho anh bị gảy xương đùi, gảy lồi cầu trong xương đùi phải; xe của anh cũng bị hư hỏng nặng.

Sau khi vụ việc xảy ra và quá trình điều trị thương tích, bên anh Võ Quốc H đồng ý bồi thường cho anh số tiền 60.000.000đ và cam kết nhiều lần nhưng không thực hiện, không thăm hỏi tình trạng sức khỏe của anh ra sao.

Từ nội dung trên, anh yêu cầu anh Võ Quốc H phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi gây tai nạn của anh H gây ra cho anh với các khoản chi phí hơn 60.000.000đ nhưng anh chỉ yêu cầu 60.000.000đ, cụ thể như sau:

- Chi phí khám và điều trị bệnh theo toa vé: 30.294.194đ;

- Chi phí thuê phương tiện đi lại khám chữa bệnh đi và về: 1.500.000đ;

- Chi phí ăn uống cho người bệnh và người nuôi bệnh 10 ngày x 100.000đ/ngày x 2 người = 2.000.000đ;

- Tiền mất thu nhập của người bệnh và người nuôi bệnh trong thời gian 10 ngày x 200.000đ/ngày x 2 người = 4.000.000đ;

- Chi phí tái khám 2.000.000đ;

- Tiền sửa xe hư hỏng: 6.750.000đ;

- Tiền tổn thất tinh thần 10 tháng lương cơ sở bằng 14.900.000đ;

Tổng cộng 61.444.194đ.

* Quá trình giải quyết vụ việc tại cơ quan Công an, bị đơn anh Võ Quốc H thừa nhận có gây tai nạn giao thông cho anh Hồ Ngọc S, thừa nhận hành vi của mình là sai và đồng ý bồi thường các khoản chi phí cho anh S tổng số tiền 60.000.000đ.

Tại phiên tòa, anh Võ Quốc H vắng mặt không rõ lý do.

Ngày 01/7/2022, Đội Cảnh sát giao thông trật tự - Công an huyện T có biên bản xác định lỗi giữa 02 phương tiện nêu trên, theo đó Võ Quốc H điều khiển xe vi phạm: Không chú ý quan sát phía trước dẫn đến va chạm (vi phạm khoản 23 Điều 8 của Luật Giao thông đường bộ); Điều khiển xe không có Giấy phép lái xe (vi phạm điểm a khoản 2 Điều 59 của Luật Giao thông đường bộ).

Ngày 26/5/2022, anh Hồ Ngọc S có đơn từ chối giám định thương tích và không yêu cầu xử lý hình sự.

NHẬN ĐI ̣NH CỦ A TÒ A Á N:

[1] Về tố tụng: - Loại việc các bên tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nên thuô ̣c thẩm quyền giải quyết c ủa Tòa án theo quy định tại khoản 6 Điều 26, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc vắng mặt của anh Võ Quốc H: Mặc dù đã được Toà án tống đạt các văn bản tố tụng, triệu tập anh H đến phiên toà tham gia hòa giải và xét xử vụ án nhiều lần thông qua thủ tục niêm yết công khai văn bản tố tụng nhưng anh H đều vắng mặt không có lý do, đồng thời cũng không có ý kiến phản hồi để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự tiến hành xét xử vắng mặt anh H theo quy định.

- Về thẩm quyền của Tòa án: Đây là vụ án tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, hơn nữa vụ việc gây thiệt hại xảy ra trên địa bàn khóm 7, thị trấn T, huyện T nên nguyên đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Cà Mau giải quyết là đúng quy định tại điểm d khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[2] Về nội dung: Quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự được xác định là tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, do sức khoẻ bị xâm phạm. Xét thấy, việc anh Võ Quốc H có hành vi gây tai nạn cho anh Hồ Ngọc S vào ngày 19/4/2022 là thực tế có xảy ra . Điều này đa đượ̃

c anh H thừ a nhâ ̣n, đồng thờ i sự việc cũng được Đội Cảnh sát giao thông trật tự - Công an huyện T có biên bản xác định nguyên nhân vụ tai nạn và lỗi chính của phương tiện vi phạm. Do đó, anh S khởi kiện anh H yêu cầu bồi thường thiệt hại về phần dân sự nên có căn cứ xem xét trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do sức khỏe bị xâm phạm là phù hợp.

[3] Xét thấy, các khoản chi phí anh S yêu cầu trong đó có chi phí khám và điều trị theo toa vé là chưa đúng với chứng từ thực tế đã chi. Tuy nhiên, trong quá trình các bên thương lượng giải quyết vụ việc bên Đội Cảnh sát giao thông trật tự - Công an huyện T thì anh Võ Quốc H thống nhất bồi thường các khoản chi phí cho anh Hồ Ngọc S là 60.000.000đ và có cam kết thời gian thực hiện nghĩa vụ bồi thường nhiều lần nhưng không thực hiện. Bên cạnh đó, trong vụ án này lỗi hoàn toàn được xác định là do anh Võ Quốc H gây ra nên buộc anh H phải có nghĩa vụ bồi thường cho anh S tổng số tiền 60.000.000đ là phù hợp. Việc anh H không tham gia phiên toà để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì anh H phải tự gánh chịu hậu quả của việc không chứng minh hoặc chứng minh không đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình.

[4] Do phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho nguyên đơn nên bị đơn phải chịu án phí trên số tiền bồi thường tương ứng; nguyên đơn không phải chịu án phí, đã được miễn nộp tạm ứng án phí nên không đặt ra việc hoàn lại.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các Điều 584, 585, 590 của Bộ luật dân sự;

- Căn cứ các Điều 26, 40, 147, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Hồ Ngọc S – buộc anh Võ Quốc H có nghĩa vụ bồi thường cho anh S tổng số tiền 60.000.000đ (Sáu mươi triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Buộc anh Võ Quốc H phải chịu 3.000.000đ khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Cỡ chữ