- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Mai Thị Q tranh chấp ly hôn với ông Nguyễn Hữu T"
- Tòa quyết gì? [1]. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Mai Thị Q đối với ông Nguyễn Hữu T. Bà Mai Thị Q được ly hôn với ông Nguyễn Hữu T. Ghi nhận việc bà Q không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CL TỈNH BT | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 236/2021/HNGĐ-ST Ngày: 09/7/2021 V/v “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CL, TỈNH BT
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nga.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Tùng
2. Bà Lê Thị Thúy Phượng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm – Thư ký Toà án nhân dân huyện CL, tỉnh BT.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CL, tỉnh BT tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thanh Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 7 năm 2021, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện CL, tỉnh BT xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 25/2021/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 01 năm 2021 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 07/6/2021 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Mai Thị Q, sinh năm 1985.
Địa chỉ: Ấp N, xã H, huyện CL, tỉnh BT.
* Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu T, sinh năm 1980.
Địa chỉ: Ấp L, xã LT, huyện CL, tỉnh BT.
Bà Q có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, ông T vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 31/12/2020, văn bản trình bày ý kiến ngày 16/3/2021 nguyên đơn bà Mai Thị Q trình bày:
Bà Q và ông Nguyễn Hữu T tự nguyện kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện CL, tỉnh BT vào ngày 24/7/2017. Sau khi kết hôn, bà Q và ông T sống hạnh phúc đến năm 2020 thì xảy ra mâu thuẫn do ông T thường xuyên uống rượu về chửi mắng đánh đập bà Q làm cho gia đình không được hạnh phúc. Bà Q và ông T sống ly thân từ tháng 8 năm 2020 đến nay. Bà Q nhận thấy cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông T. Bà Q không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.
Về con chung: Quá trình chung sống, bà Q và ông T không có con chung.
Về tài sản chung: Bà Q trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà Q trình bày không có.
Ngày 16/3/2021, bà Q có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
Phía bị đơn ông Nguyễn Hữu T đã nhận được thông báo thụ lý vụ án, các giấy mời của Toà án và đã được triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa nhưng ông T vắng mặt, cũng không có văn bản trình bày ý kiến nên không có phần trình bày của ông T.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CL phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật và chấp hành pháp luật của những người tiến hành tố tụng thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng quy định tại Điều 70 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn thực hiện chưa đúng quy định tại Điều 71 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Q đối với ông T.
Về con chung: bà Q trình bày không có.
Về tài sản chung: bà Q trình bày không có.
Về nợ chung: bà Q trình bày không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của Kiểm sát viên Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bà Mai Thị Q có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, ông Nguyễn Hữu T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà Q, ông T.
Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy bà Q và ông T tự nguyện kết hôn và có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện CL, tỉnh BT vào ngày 24/7/2017. Hôn nhân của ông bà là hợp pháp nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Bà Q cho rằng sau khi kết hôn, ông bà sống hạnh phúc đến năm 2020 thì xảy ra mâu thuẫn do ông T thường xuyên uống rượu không lo làm ăn, có hành vi bạo hành với bà Q. Bà Q xác định đã không còn tình cảm với ông T nên xin được ly hôn với ông T. Điều này cũng phù hợp biên bản xác minh tình trạng hôn nhân ngày 13/4/2021 của Tòa án. Tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình quy định: “... Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện công việc trong gia đình...”. Đối chiếu với quy định trên thì giữa bà Q và ông T đã có xảy ra mâu thuẫn, gia đình không còn hạnh phúc, tình nghĩa vợ chồng không còn. Đối với ông T, từ khi thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án, các Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai tài liệu, chứng cứ và hòa giải cho ông T nhưng ông T vẫn vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Qua đó cũng thể hiện việc ông T không mong muốn được hòa giải đoàn tụ, hàn gắn hạnh phúc gia đình. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà Q và ông T đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Q là phù hợp với qui định tại Điều 56 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Ghi nhận việc bà Q không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.
Về con chung: Bà Q trình bày không có con chung.
. Về tài sản chung: Bà Q trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về nợ chung: Bà Q trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Q phải chịu theo quy định của pháp luật.
Đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
[1]. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Mai Thị Q đối với ông Nguyễn Hữu T. Bà Mai Thị Q được ly hôn với ông Nguyễn Hữu T. Ghi nhận việc bà Q không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.
[2] Về con chung: Bà Q trình bày không có con chung.
[3]. Về tài sản chung: Bà Q trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4]. Về nợ chung: Bà Q trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Q phải chịu số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0004582 ngày 07/01/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện CL, BT. Bà Q đã nộp đủ án phí.
[6]. Bà Mai Thị Q và ông Nguyễn Hữu T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh BT xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh BT; - VKSND huyện CL; - CCTHADS huyện CL; - UBND xã H; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Tuyết Nga |