- Tranh chấp gì? án dân sự — "Nguyễn Văn M khởi kiện Lê Thị Kim X"
- Tòa quyết gì? 1/Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của anh Ngô Văn Kh
- Căn cứ chính? Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 29 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 236/2019/DS-PT Ngày: 28-8-2019 V/v tranh chấp: “Hợp đồng mua bán tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Đạt
Các thẩm phán:
Ông Huỳnh Hiếu
Bà Trần Thị Thu Hằng
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Lĩnh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thắm - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong ngày 28 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 209/20189/TLPT-DS ngày 19 tháng 7 năm 2019 về tranh chấp “Hợp đồng mua bán tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 129/2019/DS-ST ngày 06 tháng 6 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 272/2019/QĐ-PT ngày 22 tháng 7 năm 2019, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Nguyễn Văn M, sinh năm 1963.
Địa chỉ: ẤpA, xã H, huyện C, tỉnhT.
Đại diện theo ủy quyền: Nguyễn Thị Huỳnh Nh, sinh năm 1988 (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp Đ T, xã Đ, huyện C, tỉnh T.
- Bị đơn:
1/ Lê Thị Kim X, sinh năm 1968 (có mặt)
2/ Ngô Văn Kh, sinh năm 1968 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: ẤpA, xã H, huyện C, tỉnhT.
- Người kháng cáo: Bị đơn Lê Thị Kim X, sinh năm 1968, Ngô Văn Kh, sinh năm 1968.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm, Nguyên đơn ông Nguyễn Văn M trình bày:
Vào ngày 30/8/2016 ông có bán thức ăn chăn nuôi heo cho vợ chồng anh Ngô Văn Kh và chị Lê Thị Kim X với hình thức gối đầu, ông giao thức ăn trước, khi anh Kh, chị X bán heo sẽ trả tiền thức ăn. Ngày 28/3/2017, khi tổng kết nợ thì vợ chồng anh Kh, chị X còn nợ số tiền 29.628.000 đồng, sau đó trả được 14.000.000 đồng, hiện còn nợ lại số tiền 15.628.000 đồng đến nay chưa trả. Nay ông yêu cầu anh Ngô Văn Kh và chị Lê Thị Kim X trả số tiền thức ăn còn nợ là 15.628.000 đồng, không tính lãi, trả ngay khi án có hiệu lực pháp luật.
* Bị đơn chị Lê Thị Kim X trình bày: Chị và anh Ngô Văn Kh có mua thức ăn chăn nuôi heo của ông Nguyễn Văn M. Hình thức thanh toán là khi xuất chuồng bán heo thì vợ chồng chị trả tiền cho ông M. Ngàu 28/3/2017, sau khi tổng kết nợ thì anh chị còn nợ số tiền mua thức ăn là 29.628.000 đồng, trả được 14.000.000 đồng, hiện còn nợ lại số tiền 15.628.000 đồng. Nay ông M yêu cầu vợ chồng chị trả số tiền 15.628.000 đồng thì chị đồng ý trả Nhng xin trả mỗi tháng 500.000 đồng cho đến khi hết nợ.
* Bị đơn anh Ngô Văn Kh trình bày: Anh và chị Lê Thị Kim X có mua thức ăn chăn nuôi heo của ông Nguyễn Văn M và hiện nay còn nợ số tiền 15.628.000 đồng. Nay ông M yêu cầu vợ chồng anh trả số tiền còn nợ thì anh đồng ý trả Nhng do hoàn cảnh khó khăn xin trả dần mỗi tháng 500.000 đồng cho đến khi hết nợ.
Bản án số 129/2019/DS-ST ngày 06 tháng 6 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang. Quyết định: Căn cứ vào Điều 5, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 357, Điều 430 và Điều 440 của Bộ luật dân sự 2015; Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn M.
Buộc anh Ngô Văn Kh và chị Lê Thị Kim X có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Văn M số tiền 15.628.000 đồng. Thời gian trả khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về phần án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 10/6/2019 bị đơn Ngô Văn Kh, Lê Thị Kim X có đơn kháng cáo, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét hủy bản án sơ thẩm và xin được trả dần cho ông Nguyễn Văn M mỗi tháng 1.000.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, Chị Lê Thị Kim X giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa,căn cứ đơn xin vắng mặt của nguyên đơn thì vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang:
Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm.
Về nội dung: Các đương sự đã thống nay61t với nhau về số nợ, bi6 đơn xin trả dần , không được nguyên đơn chấp nhận.Tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo cũng không cung cấp được chứng cứ gì mới để chứng M cho yêu cầu kháng cáo là có cơ sở. Cho nên, không có cở sở để chấp nhận kháng cáo của chị Lê Thị Kim X.
Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nội dung yêu cầu kháng cáo của chị Lê Thị Kim X, lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm, ý kiến phát biểu của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Án sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật của vụ án là tranh chấp “Hợp đồng mua bán tài sản” là có căn cứ.
-Đối với đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Huỳnh Nh có dơn xin xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn theo qui định tại khoản 2 Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự.
-Đối với anh Ngô Văn Kh có kháng cáo bản án, Anh Kh đã được tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần Nhng vẫn vắng mặt không rõ lý do, nên xem Nh anh Kh từ bỏ việc kháng cáo . Tòa án đình chỉ y6eu cầu kháng cáo của anh Kh và xét xử vụ án vắng mặt anh Kh theo qui định tại khoản 3 Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ tài liệu có trong hồ sơ và tại phiên tòa phúc thẩm, chị Lê Thị Kim X trình bày Nh sau: Ngày 30/8/2016 ông M có bán thức ăn chăn nuôi heo cho anh Kh và chị X với hình thức gối đầu, ông M giao thức ăn trước, khi ông Kh, chị X bán heo sẽ trả tiền thức ăn. Ngày 28/3/2017, khi tổng kết nợ thì ông Kh, chị X còn nợ số tiền 29.628.000 đồng, sau đó trả được 14.000.000 đồng, hiện còn nợ lại số tiền 15.628.000 đồng đến nay chưa trả. Ông M yêu cầu anh Kh và chị X trả số tiền thức ăn còn nợ là 15.628.000 đồng, không tính lãi, trả ngay khi án có hiệu lực pháp luật. Vợ chồng ông Kh, chị X cũng thừa nhận còn nợ ông M số tiền trên, Nhng cho rằng hiện hoàn cảnh khó khăn, xin trả dần mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi hết nợ, ông M thì không đồng ý nên phát sinh tranh chấp.
Xét yêu cầu kháng cáo của chị Lê Thị Kim X đề nghị xin trả dần số tiền mua bán thức ăn chăn nuôi còn thiếu cho ông M. Hội đồng xét xử thấy rằng, yêu cầu kháng cáo của chị X là không có cơ sở, không được Tòa án chấp nhận. Bởi lẽ giao dịch mua bán giữa ông Nguyễn Văn M và anh Ngô Văn Kh, Chị Lê Thị Kim X đã thật sự phát sinh. Sau khi tổng kết nợ thì anh Kh, chị X còn nợ số tiền 29.628.000 đồng, sau đó chỉ trả được 14.000.000 đồng, còn nợ lại 15.628.000 đồng, đáng lẽ ra vợ chồng anh Kh, chị X phải có nghĩa vụ giao trả đầy đủ cho ông M sau khi kết nợ, Nhng kéo dài mãi đến nay vẫn chưa thanh toán, sau khi xét xử sơ thẩm cũng không có thiện ý trả nợ, nay lại xin trả dần mỗi tháng 1.000.000đồng cho đến khi xong nợ là gây thiệt thòi đến quyền lợi cho ông M và không được phía ông M đồng ý cho trả dần mỗi tháng 1.000.000đồng. Xét nội dung bản án sơ thẩm buộc anh Kh, chị X có nghĩa vụ trả cho ông M số tiền 15.628.000 đồng khi án có hiệu lực pháp luật là có căn cứ đúng pháp luật. Cho nên không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị Lê Thị Kim X.
Xét lời đề nghị của đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí phúc thẩm: Anh Ngô Văn Kh và chị Lê Thị Kim X phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308, khoản 2, khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ Điều 357, Điều 430 và Điều 440 của Bộ luật dân sự 2015; Khoản 2 Điều 26 , Khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử :
1/Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của anh Ngô Văn Kh
2/ Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị Lê Thị Kim X, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 129/2019/DS-ST ngày 06 tháng 6 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.
3/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn M.
Buộc Anh Ngô Văn Kh và Chị Lê Thị Kim X có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Văn M số tiền 15.628.000 đồng (Mười lăm triệu sáu trăm hai mươi tám nghìn đồng). Thời gian trả khi án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày ông Nguyễn Văn M có đơn yêu cầu thi hành án , nếu anh Kh và chị X chậm trả tiền thì còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chưa thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.
4/ Về án phí: Anh Ngô Văn Kh và chị Lê Thị Kim X phải chịu 781.400 đồng án phí dân sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Anh Kh, chị X đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002677 ngày 12/6/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang, khấu trừ xem Nh nộp xong án phí dân sự phúc thẩm.
Hoàn lại ông Nguyễn văn M số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 391.000 đồng theo biên lai thu số 0015865 ngày 27/3/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Tiền Giang; - TAND huyện Chợ Gạo; - Chi cục THADS huyện Chợ Gạo; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Đạt |