- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Thanh T phạm tội Gây rối trật tự công cộng - không phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Thanh T phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 235/2025/HS-ST Ngày 29-9-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐỒNG NAI
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhàn.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Nguyễn Thị Kim Yến;
2/ Ông Nguyễn Văn Năm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Phương Anh, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai, tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 178/2025/HSST ngày 08/9/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 204/2025/QĐXXST-HS ngày 11/9/2025 đối với bị cáo:
Phạm Thanh T (tên gọi khác: không), sinh năm 1991, tại Hà Nội; Nơi đăng ký HKTT: ngõ P, phường P, thị xã S, thành phố Hà Nội (nay là phường S, thành phố Hà Nội). Nơi cư trú: đường N, khu phố 4, phường H, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai (nay là phường L, tỉnh Đồng Nai); nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn L, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1969; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con lớn; bị cáo có vợ tên Lê Thùy L (đã ly hôn), hiện đang chung sống như vợ chồng với chị Mai Thị Hồng L1, sinh năm 1997, có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2010, con bé nhất sinh năm 2025;
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 08-11-2024 đến ngày 17-11-2024. Hiện bị đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng TMCP V.
Địa chỉ trụ sở: đường L, phường L, quận Đ (nay là phường G), Thành phố Hà Nội. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 00 giờ 50 phút ngày 08-11-2024, sau khi uống bia, Phạm Thanh T điều khiển xe ôtô hiệu Hyundai Santafe biển số 30F - 782.96 chở Mai Thị Hồng L1 (bạn gái T) đến chợ đêm T thuộc khu phố 5A, phường T, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai (nay là phường L, tỉnh Đồng Nai) để mua rau. Do T đỗ xe giữa đường chiếm lối đi ra vào chợ nên ông Nguyễn Văn L (nhân viên của ban quản lý chợ T) đến nhắc nhở yêu cầu T đưa xe vào bãi đỗ xe nhưng T không đồng ý dẫn đến hai bên có lời qua tiếng lại. Ông L bỏ đi vào chốt bảo vệ thì T xuống xe đi đến chỗ ông L lớn tiếng chửi. Lúc này một số người làm thuê, bốc vác hiếu kỳ tại chợ đêm đến xem. T được Li1 can ngăn và lên lại xe ôtô. Lúc này, Nguyễn Quốc A (nhân viên bốc vác) nhặt 01 cục đá đòi đánh T thì L1 can ngăn. T và Quốc A có lời qua tiếng lại với nhau, Quốc A dùng tay đấm vào mặt T gây trầy xước nhẹ gò má trái. T nói L1lên xe để về. Sự việc xảy ra thì nhiều người vây quanh xe của T để đứng xem.
Sau khi L1 lên xe ngồi, T cài số lùi (số de) thì Quốc A tiếp tục đánh 01 cái vào mặt bên trái của T (lúc này cửa kính xe bên T ngồi đang kéo hạ xuống). Do bị đánh bất ngờ nên T giật mình nhả chân phanh làm xe lùi lại khoảng hơn 01m thì T đạp phanh dừng lại. Do T đã né người về phía bên phải bên ghế phụ nên không quan sát được phía sau qua gương chiếu hậu bên trái nên T điều khiển xe ôtô tăng ga chạy nhanh về phía trước để vòng ra cổng chợ. Thấy vậy những người dân đang đứng phía trước đầu xe của T dạt né ra hai bên nên không đâm trúng ai, hông bên trái xe T va chạm vào phần đầu bửng xe môtô biển số 60X3 - 3843 do anh Phạm Hoàng Thiên H đang đậu xe đứng xem làm hư hỏng phần yếm nhựa chắn gió hai bên, mặt nạ, ốp nhựa lốc máy bên phải. Thấy vậy, Đỗ Trung K (người dân chứng kiến) đã bức xúc chạy theo đấm T một cái, K dùng tay trái nắm vào tay cầm cửa xe bên trái, tay phải bám vào thành cửa xe ôtô của T để yêu cầu T dừng lại nhưng T tiếp tục điều khiển xe ôtô bỏ chạy đụng vào xe ba gác máy biển số 60Y3 - 6540 do anh Hà Nhật M đang ngồi trên xe dừng ở bãi xe của chợ Tlàm hư hỏng, gãy hai phuộc nhún trước của xe ba gác máy. Anh M nhảy xuống đất nên không bị thương tích. K tiếp tục dùng ta y trái đấm 04 cái vào mặt của T thì T kéo cửa kính bên trái lên và lùi xe lại nên K buông tay ra. T điều khiển xe bỏ chạy ra khỏi chợ về hướng Quốc lộ 1A. Hành vi của T đã làm hư hỏng xe môtô biển số 60X3 – 3843 và xe ba gác biển số 60Y3-6540 với tổng trị giá thiệt hại là 1.175.000đ (Một triệu một trăm bảy mươi lăm nghìn đồng), việc điều khiển xe chạy nhanh lao về phía đám đông người dân trong khu vực chợ đã làm nhiều người dân hoảng sợ, gây mất trật tự nơi công cộng, người dân quay video đăng lên mạng xã hội đã gây dư luận và ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương.
Quá trình điều tra: Phạm Thanh T đã khai nhận hành vi phạm tội như trên.
Về vật chứng:
- 01 xe ôtô hiệu Hyundai Santafe biển số 30F-782.96 số khung RLUSV81BDKN001965, số máy D4HBKU913154 của Phạm Thanh T dùng vào việc phạm tội. Hiện T đang thế chấp xe tại Ngân hàng thương mại cổ phần V chi nhánh Hà Nội. (Bút lục: 111)
- 01 xe môtô biển số 60X3-3843 của anh Phạm Hoàng Thiên H và 01 xe môtô ba bánh biển số 60Y3-6540 của anh Hà Nhật M. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai đã trả lại xe cho anh H và M quản lý. (Bút lục số 109, 128)
- 01 USB chứa Video clip ghi nhận vụ việc (Được lưu giữ trong hồ sơ vụ án) (Bút lục: 74, 75)
* Tại kết luận số 382/KL-HĐĐGTS ngày 13-11-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Biên Hòa đã kết luận: 01 xe môtô biển số 60X3-3843 bị hư hỏng một số bộ phận trên xe trị giá là 230.000 (Hai trăm ba mươi nghìn đồng). (Bút lục: 106)
* Tại kết luận số 381/KL-HĐĐGTS ngày 13-11-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Biên Hòa đã kết luận: 01 xe môtô ba bánh biển số 60Y3-6540 bị hư hỏng 02 phuộc nhúng bánh trước trị giá là 945.000 (Chín trăm bốn mươi lăm nghìn đồng). (Bút lục: 125)
* Quá trình điều tra: Gia đình Phạm Thanh T đã bồi thường cho anh Phạm Hoàng Thiên H và anh Hà Nhật M, anh H và anh M đã có đơn bãi nại cho T. (Bút lục: 130, 135)
Tại Cáo trạng số 115/CT-VKS-HS ngày 18/8/2025 Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai đã truy tố bị cáo Phạm Thanh T về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai giữ nguyên Cáo trạng truy tố bị cáo Phạm Thanh T về tội danh, điều luật áp dụng nói trên và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm n khoản 1 Điều 52; Điều 36, Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 đề nghị xử phạt bị cáo 01 năm 06 tháng đến 02 năm cải tạo không giam giữ.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định.
Tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, lời khai của những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ngân hàng TMCP V. Nhận thấy, tòa án đã tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, trong quá trình điều tra ngân hàng TMCP V đã có lời khai trình bày ý kiến về vụ việc. Do đó Hội đồng xét xử vắng mặt ngân hàng TMCP V theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Theo như các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, bị cáo Phạm Thanh T thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố; lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai trong biên bản hỏi cung bị can, biên bản lấy lời khai người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được Hội đồng xét xử công khai tại phiên tòa.
Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 0 giờ 50 phút ngày 08-11-2024, tại chợ T thuộc khu phố 5A, phường T, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai (nay là phường C, tỉnh Đồng Nai), do Phạm Thanh T đậu xe cản trở giao thông nên đã xảy ra lời qua tiếng lại mâu thuẫn với ông Nguyễn Văn Lượng (nhân viên ban quản lý chợ T) và Nguyễn Quốc Anh (nhân viên bốc vác). Khi bị Quốc Anh và Đỗ Trung K (người dân đứng chứng kiến) dùng tay đánh thì T đã điều khiển xe ôtô biển số 30F-782.96 tăng ga bỏ chạy nhanh vào khu vực chợ T. Quá trình bỏ chạy, T điều khiển xe va chạm gây hư hỏng 01 xe môtô biển số 60X3-3843 và 01 xe mô tô ba bánh biển số 60Y3-6540 với tổng trị giá thiệt hại là 1.175.000đ (Một triệu một trăm bảy mươi lăm nghìn đồng). Hành vi của T điều khiển xe ô tô chạy nhanh lao về phía đám đông người dân trong khu vực chợ đã làm nhiều người dân trong khu vực chợ hoảng sợ, gây mất trật tự nơi công cộng và ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương.
Từ căn cứ trên, xác định bị cáo Phạm Thanh T đã phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Như vậy, bản Cáo trạng số 115/CT-VKSBH ngày 18/8/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo Phạm Thanh T về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo các điều khoản tương ứng nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Xét tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và lỗi: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự, an toàn công cộng. Hành vi của bị cáo tuy chưa gây ra hậu quả lớn nhưng đã ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và dư luận xã hội tại địa phương nên bị cáo phải chịu trách nhiệm tương ứng về hành vi thực hiện để cải tạo, giáo dục răn đe và phòng ngừa chung.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo “Dùng phương tiện có khả năng nguy hại cho nhiều người để phạm tội” nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm n khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Vì vậy, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Từ những nhận định trên, xét về tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả của hành vi phạm tội gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo cũng như yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống tội phạm, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo đã ăn ăn hối cải với hành vi sai trái của mình, quá trình được tại ngoại chấp hành nghiêm quy định của pháp luật nên có thể cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội với sự giám sát của gia đình và chính quyền địa phương, việc áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đủ để răn đe, cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và cũng nhằm đảm bảo sự nghiêm minh, khoan hồng của pháp luật. Bị cáo không có thu nhập ổn định, hiện phải nuôi 4 con nhỏ nên miễn việc khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
Về vật chứng vụ án:
+ Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 xe ôtô hiệu Hyundai Santafe
biển số 30F-782.96 số khung RLUSV81BDKN001965, số máy D4HBKU913154 của Phạm Thanh T dùng vào việc phạm tội.
+ 01 xe môtô biển số 60X3-3843 của anh Phạm Hoàng Thiên H và 01 xe môtô ba bánh biển số 60Y3-6540 của anh Hà Nhật M. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai đã trả lại xe cho anh H và M là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về các vấn đề khác trong vụ án: Đối với Nguyễn Quốc A có dùng tay đánh Phạm Thanh T nhưng không gây thương tích, việc Quốc A đánh T ảnh hưởng đến an ninh, trật tự nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai chuyển đến Công an phường L để xử phạt hành chính là phù hợp.
Đối với Đỗ Trung K: Khi K đứng chứng kiến sự việc thì bị T điều khiển xe lao thẳng vào nên K đã bức xúc và đu theo xe để đánh T nhằm yêu cầu T dừng xe lại nhưng không gây thương tích. Việc K đánh T ảnh hưởng đến an ninh, trật tự nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai chuyển đến Công an phường L để xử phạt hành chính là phù hợp.
Đối với trình bày và yêu cầu của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Ngân hàng TMCP V: Ngân hàng yêu cầu bàn giao lại xe ôtô hiệu Hyundai Santafe biển số 30F-782.96 số khung RLUSV81BDKN001965, số máy D4HBKU913154 cho ngân hàng. Xét thấy chiếc xe ô tô trên là của Phạm Thanh T, T dùng chiếc xe này làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội, nên căn cứ điều 46, 47 bộ luật hình sự 2015 cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Trình bày và yêu cầu của Ngân hàng V là không phù hợp nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
Nhận định về phần trình bày của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh, mức hình phạt là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Đối với phần trình bày của bị cáo: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt. Đã được Hội đồng xét xử xem xét khi nghị án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Phạm Thanh T phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Áp dụng khoản 1 Điều 318, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm n khoản 1 Điều 52, Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Phạm Thanh T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ 09 ngày tạm giữ bằng 21 ngày cải tạo không giam giữ. Thời điểm chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường L, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 xe ôtô hiệu Hyundai Santafe biển số 30F-782.96 số khung RLUSV81BDKN001965, số máy D4HBKU913154 của Phạm Thanh T dùng vào việc phạm tội.
Vật chứng này hiện được lưu giữ tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 1 - Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai theo biên bản giao vật chứng tài sản ngày 28/8/2025.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 23, 26 và 27 Nghị quyết số 326/2016 /UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo, kháng nghị đối với Bản án:
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Ngân hàng TMCP V vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - VKSND khu vực 1 – Đồng Nai; - Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai; - Bị cáo; những người tham gia tố tụng khác; - Lưu HS, THS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nhàn |