- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Nguyễn Thị D - Trần Văn B"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị D về việc yêu cầu ông Trần Văn B thanh toán tiền hụi.
- Căn cứ chính? Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 468 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 235/2024/DS-PT Ngày: 28 - 5 - 2024 V/v Tranh chấp tiền hụi |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền
Các Thẩm phán: Ông Đỗ Cao Khánh
Ông Hồ Minh Tấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Xuân Thũy - Là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 105/2024/TLPT-DS ngày 24 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp tiền hụi”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 24/2024/DS-ST ngày 12 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện U Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 111/2024/QĐ-PT ngày 10 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1974 (có mặt).
- Bị đơn: Ông Trần Văn B, sinh năm: 1958 (có mặt).
Cùng địa chỉ: ấp 1, xã Khánh An, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.
Người kháng cáo: Ông Trần Văn B, là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày:
Ngày 25 tháng 4 (sau) năm 2020 âm lịch (do năm 2020 nhuần hai tháng 4 âm lịch) bà có mở 01 dây hụi loại hụi 1.000.000 đồng/tháng, gồm 36 chưng, ông Trần Văn B có tham gia 02 chưng. Ông B kêu hụi hốt chân thứ nhất vào ngày 25/8/2022 (âm lịch) kêu giá 510.000 đồng khi hốt có 26 chưng chết, 09 chưng sống, hốt được số tiền 29.865.000 đồng. Còn 01 chưng ông B kêu hụi hốt vào ngày 25/01/2023 âm lịch, kêu giá 550.000 đồng, có 31 chưng chết, 04 chưng sống, hốt được số tiền 32.300.000 đồng. Sau khi hốt hụi, ông B đóng hụi chết được 01 tháng đến ngày 25/3/2023 âm lịch bà đến gom hụi thì ông B nói chỉ đóng 935.000 đồng là dứt điểm, bà không đồng ý nên không nhận số tiền 935.000 đồng. Dây hụi này đến ngày 25/4/2023 thì mãn hụi như vậy ông B còn nợ bà 02 tháng tiền hụi của 02 chưng là 02 tháng x 1.000.000 đồng x 02 chưng bằng số tiền 4.000.000 đồng. Bà yêu cầu ông Trần Văn B có trách nhiệm trả cho bà số tiền hụi còn thiếu là 4.000.000 đồng.
Quá trình tham gia giải quyết vụ án bị đơn trình bày:
Ông thừa nhận có tham gia chơi hụi do bà Nguyễn Thị D làm chủ, dây hụi mở ngày 25/4/2020 âm lịch, tháng tư trước do năm 2020 nhuần 02 tháng tư. Ông tham gia 02 chưng trong danh sách hụi ghi tên “Tư Bê”, ông hốt chưng thứ nhất vào tháng 9/2022 âm lịch, kêu 515.000 đồng, ông hốt được số tiền là 29.865.000 đồng, trong giấy giao hụi bà D ghi là 26 chưng chết nhưng ông không đồng ý, ông xác định là 27 chưng chết mới đúng nhưng ông vẫn đồng ý nhận tiền hụi bà D giao, có gì tính sau. Chưng thứ 2, ông hốt vào ngày 25/01/2023 âm lịch kêu hụi 550.000 đồng, giấy hụi bà D ghi 31 chưng chết, 04 chưng sống ông không đồng ý, ông xác định là 32 chưng chết, khi giao hụi ông không đồng ý. Cả hai lần hốt hụi và giao hụi ông không có ký tên vào sổ theo dõi hụi của bà D mà vợ ông là bà Tạ Thị Nguyên ký tên “nguyên” trong sổ theo dõi của bà D và nhận tiền. Ông xác định việc chơi hụi ông là người trực tiếp tham gia với bà D, có lúc ông đưa tiền cho bà Nguyệt đóng hụi cho bà D. Ông xác định hai chưng hụi này khi ông hốt hụi bà D giao không đúng nên hiện nay ông chỉ còn thiếu bà D số tiền là 935.000 đồng nên chỉ đồng ý trả số tiền là 935.000 đồng, ông không đồng ý trả 4.000.000 đồng theo yêu cầu của bà D.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 24/2024/DS-ST ngày 12 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện U Minh đã quyết định:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị D về việc yêu cầu ông Trần Văn B trả tiền hụi. Buộc ông B trả cho bà D tiền hụi là 4.000.000 đồng.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 25/3/2024, ông Trần Văn B kháng cáo yêu cầu xem xét lại toàn bộ bản án để giải quyết công bằng.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn, bà D đồng ý với bản án sơ thẩm. Hụi khui tháng 4 sau của năm 2020, sổ theo dõi thể hiện tháng 4, đến tháng 5 và đến khi mãn hụi; bà có giao giấy hụi cho hụi viên thể hiện tháng 4/2020.
Bị đơn, ông B trình bày: Ông kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm, ông chỉ đồng ý trả cho bà D 935.000 đồng. Căn cứ kháng cáo: ông B hốt chưng hụi thứ nhất ở kỳ 26 thì bà D giao thiếu 1.065.000 đồng nên ông B khấu trừ số tiền này vào hụi chết; dây hụi bà D khui tháng 4 trước của năm 2020 và năm 2023 có 02 tháng nhuần, cho nên ông đã đóng đủ tiền hụi chết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tiến hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng và các đương sự cũng chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ của các đương sự được pháp luật quy định.
Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Văn B, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của người tham gia tố tụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Đơn kháng cáo của ông Trần Văn B trong thời hạn luật định, được chấp nhận xem xét, giải quyết.
Xét kháng cáo của ông B yêu cầu sửa bản án sơ thẩm, ông không đồng ý thanh toán 4.000.000 đồng hụi chết mà ông chỉ thiếu 935.000 đồng
Qua xem xét toàn diện chứng cứ, thể hiện: Bị đơn ông Trần Văn B tham gia 02 chưng hụi 1.000.000 đồng của dây hụi có 36 chưng do bà D làm chủ, mỗi tháng khui 01 lần, ông B hốt hết hai chưng hụi và phải đóng hụi chết của hai chưng hụi với mỗi kỳ bằng 2.000.000 đồng, bởi vì dây hụi này bà D khui đến mãn và bà phải chung đủ tiền hụi cho những hụi viên hốt sau.
Ông B kháng cáo, không đồng ý thanh toán theo yêu cầu của bà D, vì ông B cho rằng chưng hụi thứ nhất hốt ở kỳ 26 thì bà D giao thiếu 1.065.000 đồng nên ông B khấu trừ số tiền này và chỉ đóng 935.000 đồng; còn lại 01 chưng hụi chết ông B hốt kỳ 31 thì bà D yêu cầu ông B đóng 2.000.000 đồng vì theo bà D dây hụi khui tháng 4/2020 (tháng 4 sau) nên ông B phải đóng hụi chết đến hết tháng 3/2023 (do ngưng khui hụi 02 tháng 6 và 7 dịch Covid và năm 2023 có nhuần hai tháng 02), nhưng ông B xác định bà D khui hụi tháng 4 trước chứ không phải tháng 4 nhuần cho nên ông B chỉ đóng hụi chết đến tháng 02/2023 chứ không phải đóng thêm hai chưng hụi chết 2.000.000 đồng đến tháng 3/2023 như bà D trình bày. Lời khai của ông B không được chấp nhận, bởi lẽ: chưng hụi thứ nhất ông B hốt hụi kỳ thứ 26, bà D giao đủ tiền hụi, nếu như ông B cho rằng giao thiếu 1.065.000 đồng thì tại sao vẫn nhận tiền hốt hụi do bà D giao và sau đó đóng hụi chết cho đến khi hốt chưng hụi thứ hai ở kỳ 31 (thời gian cách lần hốt hụi chưng thứ nhất 05 tháng). Đối với chưng hụi thứ hai, bà D chung đủ tiền khi ông B hốt hụi, nên ông B phải đóng hụi chết đến mãn là tháng 3/2023 âm lịch, vì bà D chứng minh được qua giấy hụi và các hụi viên trình bày hụi khui tháng 4 sau (tháng 4 nhuần) chứ không phải khui tháng 4 trước như ông B trình bày. Với nhận định này, bản án sơ thẩm chấp nhận khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở; do đó, kháng cáo của ông B không được chấp nhận; giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Án phí phúc thẩm bị đơn được miễn.
Các quyết định khác của án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Văn B; giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 24/2024/DS-ST ngày 12 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.
Căn cứ Điều 468; Điều 471 của Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị D về việc yêu cầu ông Trần Văn B thanh toán tiền hụi.
Buộc ông Trần Văn B thanh toán cho bà Nguyễn Thị D số tiền hụi là 4.000.000 (Bốn triệu) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, nếu chậm thi hành án thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
2. Về án phí
Ông Trần Văn B được miễn án phí sơ thẩm và phúc thẩm.
Bà Nguyễn Thị D không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Bà Nguyễn Thị D đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai số 0011464 ngày 04 tháng 10 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện U Minh được nhận lại.
3. Các quyết định khác của án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân huyện U Minh;
- Chi cục THADS huyện U Minh;
- Các đương sự;
(Đã ký)
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
Nguyễn Thị Hiền
- Lưu VT(TM:TANDTCM).
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau; - Tòa án nhân dân huyện U Minh; - Chi cục THADS huyện U Minh; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn; - Lưu VT(TM:TANDTCM). | THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Hiền |