vanban.org

Bản án 235/2021/HSST — Hình sự

TAND Q. Hà Đông, TP. Hà Nội Tuyên án 16/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng vào điểm b, c khoản 2 Điều 146; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Áp dụng các Điều 135, Điều 106; Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố Tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư…

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Thái S phạm tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi”. Xử phạt: bị cáo Nguyễn Thái S 04 (Bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 05/4/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thái S phạm tội Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi - phạm tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi (điều 146 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng vào điểm b, c khoản 2 Điều 146; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Áp dụng các Điều 135, Điều 106; Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố Tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư…
  • Căn cứ chính? Điều 146 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HÀ ĐÔNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
-----***-----

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:235/2021/HSST
Ngày: 16/11/2021

NNHHÂÂNN DDAANNHH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNGTÒA

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

* Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền

* Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Tiến

Bà Vũ Thị Minh Hà

* Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Linh -

Cán bộ Tòa án

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tham gia phiên tòa:

Ông Đặng Hoài An - Kiểm sát viên

Ngày 16 tháng 11 năm 2021, tại Trụ sở Toà án nhân dân quận Hà Đông, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 184/2021/TLST-HS ngày 23/7/2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 274/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Thái S, sinh ngày 09/12/1991; Tên gọi khác: không; Hộ khẩu thường trú: TDP 13, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; Thuê nhà ở hiện tại: ngõ 204 phố T, phường C, quận B, thành phố Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo, đảng phái: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông: Nguyễn Văn X, sinh năm 1955; Con bà: Vũ Thị Y, Sinh năm 1964 (đã chết); Vợ, con: chưa cóTiền án, tiền sự: Không

Nhân thân: 2008 bị Công an phường Hương Sơn, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt hành chính 200.000 đồng về hành vi cố ý gây thương tích.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ 05/04/2021 tại trại tạm giam số 2- Công an thành phố Hà Nội.

(Có mặt tại phiên tòa).

Người bị hại:

1. Cháu Phạm Hoàng Bảo A, sinh ngày 8/3/2013; HKTT: E1505 chung cư M phường M, quận H, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt tại phiên tòa)

2. Cháu Phạm Phương T, sinh ngày 01/10/2013; HKTT: E1508 chung cư M, phường M, quận H, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt tại phiên tòa)

Người đại diện theo pháp luật của cháu Phạm Hoàng Bảo A là: chị Hoàng Thị Thu H, sinh năm 1985; HKTT: E1505 chung cư M phường M, quận H, thành phố Hà Nội. (Có mặt tại phiên tòa).

Người đại diện theo pháp luật của cháu Phạm Phương T là: anh Phạm Minh P, sinh năm: 1985; HKTT: E1508 chung cư M phường M, quận H, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thái S, sinh năm: 1991; Hộ khẩu thường trú: phường H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên sống bằng nghề lái xe máy Grab, ngoài ra S còn nhận dạy các cháu nhỏ trượt patin để kiếm thêm thu nhập. Khoảng tháng 10/2020, S nhận dạy trượt patin cho cháu Phạm Hoàng Bảo A (sinh ngày 8/3/2013 là con chị Hoàng Thị Thu H, sinh năm 1985, HKTT: E1505 chung cư M, phường M, quận H), cháu Phạm Phương T (sinh ngày 01/10/2013, là con anh Phạm Minh P, sinh năm: 1985, HKTT: E1508 chung cư M, phường M, quận H) và một số cháu nhỏ khác tại sảnh tòa D chung cư M thuộc phường M, quận H, Hà Nội. Trong các bài tập trượt patin có nội dung tập kỹ thuật đi cầu thang, vì vậy S thường đưa các cháu bé vào khu vực cầu thang bộ thoát hiểm của tòa nhà D để tập. Do khu vực này không có người đi lại, không có camera giám sát, phụ huynh của các cháu bé không đi theo vào cùng nên quá trình tập cho cháu Bảo A và cháu T, S đã nảy sinh ý định thực hiện hành vi dâm ô với cháu Bảo A, cháu T để thỏa mãn ham muốn dục vọng của bản thân (do S thường xuyên vào các trang Web phim có nội dung kích dục, khiêu dâm trẻ em để xem). Để thực hiện hành vi, khi cháu Bảo A, cháu T tập bài đi bước chéo lên xuống từng bậc cầu thang thì tay trái S đỡ vào lưng các cháu, tay phải của S chỉnh chân cho các cháu, lợi dụng việc chỉnh chân S đã dùng tay phải của S sờ, tì gián tiếp bên ngoài quần hoặc váy của các cháu vào vùng âm hộ của cháu Bảo A, cháu T, khi các cháu bước lên xuống cầu thang đến khi hết bậc cầu thang gây ảnh hưởng đến sự phát triển tâm sinh lý của cháu Bảo A và cháu T.

Ngày 04/4/2021, Nguyễn Thái S đến Công an phường Mộ Lao, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội đầu thú về hành vi dâm ô trên.

Vật chứng thu giữ:

- 01 (một) điện thoại di động Redmi 8, màu đỏ đen, ram 4Gb, bộ nhớ 64 Gb (đã qua sử dụng).

Ngày 04/4/2021, Cơ quan Cánh sát điều tra Công an quận Hà Đông ra quyết định trưng cầu giám định số 288 trưng cầu giám định pháp y sinh dục của cháu Phạm Hoàng Bảo A. Tại kết luận giám định pháp y đối với trẻ em bị hoặc nghi bị xâm hại tình dục số 2596/C09.TT1/TDTE ngày 08/4/2021 của Viện khoa học hình sự- Bộ Công an kết luận:

“1. Bộ phận sinh dục ngoài của cháu Phạm Hoàng Bảo A không có dấu vết tổn thương, màng trinh không bị rách”

2. Các bộ phận khác cơ trên cơ thể cháu Phạm Hoàng Bảo A không có dấu vết tổn thương.”

Ngày 06/4/2021, Cơ quan Cánh sát điều tra Công an quận Hà Đông ra quyết định trưng cầu giám định số 295 trưng cầu giám định pháp y sinh dục của cháu Phạm Phương T. Tại kết luận giám định pháp y đối với trẻ em bị hoặc nghi bị xâm hại tình dục số 2648/C09.TT1/TDTE ngày 08/4/2021 của Viện khoa học hình sự- Bộ Công an kết luận:

“1. Bộ phận sinh dục ngoài của cháu Phạm Phương T không có dấu vết tổn thương, màng trinh không bị rách”

2. Các bộ phận khác cơ trên cơ thể cháu Phạm Hoàng Bảo A không có dấu vết tổn thương.”

Về phần trách nhiệm dân sự: bị hại và gia đình bị hại không có yêu cầu đề nghị gì.

Trước cơ quan điều tra, Nguyễn Thái S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo S phù hợp với lời khai của bị hại, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản Cáo trạng số 187 ngày 22/7/2021, của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông đã truy tố bị cáo Nguyễn Thái S về tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 146 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông giữ nguyên quan điểm truy tố; sau khi xem xét các tình tiết về trách nhiệm hình sự của bị cáo, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 146; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Thái S từ 45 đến 48 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 5/4/2021.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo;

Về vật chứng: đề nghị HĐXX xem xét trả lại chiếc điện thoại di dộng cho bị cáo.

Do người bị hại và gia đình người bị hại khồng có đề nghị gì về bồi thường trách nhiệm dân sự, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai nhận tội của bị cáo và các tài liệu chứng cứ khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về hoạt động: “Điều tra”, “Truy tố” đồng thời đã giải thích và tạo điều kiện để các bị cáo và người tham gia tố tụng khác thực hiện đủ, đúng các quyền, nghĩa vụ tố tụng của họ.

Về nội dung: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của những người làm chứng, phù hợp với vật chứng, tài liệu đã được thu thập trong hồ sơ vụ án và phù hợp với kết luận giám định. Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận Từ tháng 11/2020 đến ngày 03/4/2021, trong quá trình hướng dẫn 02 cháu Phạm Hoàng Bảo A và Phạm Phương T (cùng sinh năm 2013) tập đi bộ Partin lên xuống cầu thang bộ lối thoát hiểm tại tòa D, chung cư M, phường M, quận H, Nguyễn Thái S có hành vi dùng tay sờ gián tiếp nhiều lần qua lớp quần hoặc váy vào bộ phận sinh dục của cháu Phạm Hoàng Bảo A và Phạm Phương T (cùng sinh năm 2013). Đối với cháu Bảo A lần gần nhất là vào chiều tối ngày 03/4/2021. Đối với cháu T lần gần nhất vào tháng 3/2021.

Đối chiếu với quy định tại các điểm b, c khoản 2 Điều 146 Bộ luật hình sự có đủ cơ sở pháp luật quy kết bị cáo Nguyễn Thái S phạm tội “Dâm ô với người dưới 16 tuổi”. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội truy tố Nguyễn Thái S theo điểm b, c khoản 2 Điều 146 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, sự phát triển bình thường về tâm sinh lý của trẻ nhỏ, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay loại tội phạm này đang gia tăng gây bất bình lớn trong dư luận. Vì vậy, cần phải có hình phạt phù hợp để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

Tuy nhiên, khi xem xét mức hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đại diện theo pháp luật của người bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường dân sự và đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đây là các tình tiết được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về trách nhiệm dân sự: bị hại và gia đình bị hại không có yêu cầu đề nghị gì. Đại diện của các gia đình bị hại không có đề nghị gì thêm về phân bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: 01 chiếc điện thoại di động Redmi 8, màu đỏ đen, ram 4Gb, bộ nhớ 64 Gb là điện thoại của bị cáo, bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng vào điểm b, c khoản 2 Điều 146; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Áp dụng các Điều 135, Điều 106; Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố Tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án và lệ phí Tòa án;

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Thái S phạm tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi”.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Thái S 04 (Bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 05/4/2021.

3. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại, đại diện pháp luật của người bị hại không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về vật chứng: Trả lại cho bị cáo chiếc 01 chiếc điện thoại di động Redmi 8, màu đỏ đen, ram 4Gb, bộ nhớ 64 Gb.

(Tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng và Quyết định chuyển vật chứng số 155 ngày 22/7/2021của Viện kiểm sát nhân quận Hà Đông)

5. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thái S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện pháp luật của người bị hại có mặt tại phiện tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, đại diện pháp luật của người bị hại, vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ