vanban.org

Bản án 235/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Khoản 1 Điều 14; Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tò…

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của anh Trần Thanh S được ly hôn với chị Nguyễn Út D. Về con chung: Giao cháu Trần Ngọc H, sinh ngày 16/10/2004, Trần Khánh A, sinh ngày 31/8/2006, Trần Duy Khang, sinh ngày 21/8/2017 cho anh Trần Thanh S nuôi dạy đến tuổi trưởng thành tức 18 tuổi, chị D không có nghĩa… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp Hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 14; Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tò…
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN VĂN THỜI
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 235/2021/HNGĐ-ST
Ngày 09 tháng 12 năm 2021
Về việc: Ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thanh Thủy

Các Hội thẩm nhân dân: Bà: Nguyễn Kim Lên

Bà: Lưu Xong Pha

- Thư ký phiên tòa Ông Phan Việt Xô - là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

Ngày 09 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 139/2021/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2021 về việc: Ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 212/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 10 năm 2021, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ah Trần Thanh S, sinh năm 1981 (xin vắng mặt).

Bị đơn: Nguyễn Út D, sinh năm 1980 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Ấp R, xã L, huyện T, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 05/3/2021 và đơn xin vắng mặt nguyên là Trần Thanh S trình bày:

Về hôn nhân: Ah và chị Nguyễn Út D chung sống với nhau năm 2006 hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Lợi A huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, nguyên nhân mâu thuẫn, trong thời gian chung sống vợ chồng xảy ra nhiều bất đồng quan điểm, tính tình vợ chồng không hợp nhau, thường hay cự cải, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài. Nay anh yêu cầu được ly hôn với chị Nguyễn Út D.

Về con chung: Thời kỳ chung sống tạo 03 con chung tên: Trần Ngọc H, sinh ngày 16/10/2004, Trần Khánh A, sinh ngày 31/8/2006, Trần Duy Khang, sinh ngày 21/8/2017 hiện nay anh đang nuôi dạy, nay yêu cầu nuôi con không yêu cầu cấp dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn chị Nguyễn Út D: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ để công khai chứng cứ và xét xử nhưng chị D vẫn vắng mặt không lý do. Do đó, Tòa án không ghi nhận được lời trình bài của chị D.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn anh S và chị D có nơi trú tại huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ah Trần Thanh S khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với chị Nguyễn Út D , tranh chấp về hôn nhân. Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án được xác định là "Ly hôn" theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Ah S là người khởi kiện nên xác định tư cách đương sự anh S là nguyên đơn, chị D là bị đơn được quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn, có yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ để công khai chứng cứ và xét xử nhưng chị D vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ theo khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.

Về quan hệ hôn nhân: Ah S và chị D hôn nhân tự nguyện có đăng ký kết hôn theo quy đinh của pháp luật, Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa anh S và chị D được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp và được bảo vệ. Về mâu thuẫn không còn tình cảm thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc giúp đỡ nhau; anh chị đã vi phạm nghĩa vụ sống chung của vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, anh S và chị D đã ly thân thời gian dài. Căn cứ Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Vì vậy, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của anh S được ly hôn với chị D.

Về con chung: Ah S và chị D tạo 03 con chung Trần Ngọc H, sinh ngày 16/10/2004, Trần Khánh A, sinh ngày 31/8/2006, Trần Duy Khang, sinh ngày 21/8/2017 hiện nay anh đang nuôi dạy, nay yêu cầu nuôi con không yêu cầu cấp dưỡng. Xét, con chung tên Trần Ngọc H, sinh ngày 16/10/2004, Trần Khánh A, sinh ngày 31/8/2006, Trần Duy Khang, sinh ngày 21/8/2017 hiện nay anh đang nuôi dạy, nay yêu cầu nuôi con không yêu cầu cấp dưỡng.

Xét, con chung tên Trần Ngọc H, sinh ngày 16/10/2004, Trần Khánh A, sinh ngày 31/8/2006, Trần Duy Khang, sinh ngày 21/8/2017 sống chung với anh S và nguyện vong của 02 cháu muốn sống với anh S hiện đang đi học nên gần gũi với anh S, ổn định về thời gian, phát triển tốt về mọi mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình, giao cháu Trần Ngọc H, sinh ngày 16/10/2004, Trần Khánh A, sinh ngày 31/8/2006 cho anh S trực tiếp nuôi dưỡng; anh S không yêu cầu cấp dưỡng, nên không xem xét. Chị D không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc nuôi dạy con chung không ai có quyền ngăn cản.

Về tài sản chung và nợ chung: Ah S xác định không có, nên không xem xét.

Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc anh S phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 và khoản 3 Điều 68; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 238; Điều 266; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 14; Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của anh Trần Thanh S được ly hôn với chị Nguyễn Út D.

2. Về con chung: Giao cháu Trần Ngọc H, sinh ngày 16/10/2004, Trần Khánh A, sinh ngày 31/8/2006, Trần Duy Khang, sinh ngày 21/8/2017 cho anh Trần Thanh S nuôi dạy đến tuổi trưởng thành tức 18 tuổi, chị D không có nghĩa vụ cấp dưỡng. Chị D không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc nuôi dạy con chung không ai có quyền ngăn cản.

3. Về án phí: Ah Trần Thanh S phải nộp số tiền 300.000 đồng; ngày 05/3/2021 anh S đã dự nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0004697 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, nay được chuyển thu đối trừ.

4. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. ơi nhận:

Cỡ chữ