vanban.org

Bản án 235/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN A

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 235/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 25/6/2020
V/v “Tranh chấp hôn nhân gia đình, ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A - TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Mai Việt Quốc

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Hoàng Nghiệp;

2. Bà Nguyễn Thị Kim Uyên.

- Thư ký phiên toà: Bà Võ Thị Chúc Phương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện A mở xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 11/2020/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 01 năm 2020 về việc “Tranh chấp hôn nhân gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 234/2020/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 150/2020/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2020, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Ngô Thị Hồng T, sinh năm 1998, nơi cư trú: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Ông Nguyễn Thành L, sinh năm 1993, nơi cư trú: Ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang.

(Bà T có mặt; ông L vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu kèm theo bà Ngô Thị Hồng T trình bày: Hôn nhân của bà với Nguyễn Thành L tự tìm hiểu, được gia đình hai bên tổ chức đám cưới vào đầu năm 2019, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V vào ngày 12/02/2019. Nguyên nhân mâu thuẫn do ông L có mối quan hệ bất chính với người phụ nữ khác, không chăm lo cho cuộc sống gia đình, bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi nhau. Bà và ông L ly thân từ tháng 9/2019 đến nay. Trong thời gian ly thân gia đình hai bên không đứng ra hàn gắn. Nay bà yêu cầu được ly hôn với ông L.

Về con chung: Bà và ông Luân có 01 con chung Nguyễn Thành L, sinh ngày 28/7/2019. Hiện nay cháu L đang do bà trực tiếp nuôi dạy. Khi ly hôn bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dạy con chung, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài liệu chứng cứ: Các tài liệu chứng cứ các đương sự giao nộp đã được thẩm tra và công khai trong quá trình hòa giải, các đương sự không có ý kiến gì về các tài liệu chứng cứ và tại phiên tòa không ai giao nộp bổ sung thêm tài liệu chứng cứ khác.

Trong quá trình thụ lý, hòa giải Tòa án đã tiến hành cấp tống đạt cho ông Nguyễn Thành L theo quy định nhưng ông L vẫn không có mặt theo các thông báo của Tòa án. Tòa án có phân công cán bộ đến tại nhà của ông L làm việc nhưng vẫn không gặp ông L để ghi nhận ý kiến. Tòa án tiến hành xác minh nơi cư trú và tình trạng hôn nhân của bà T và ông L để giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

Chứng cứ mà Tòa án thu thập được: Tòa án tiến hành xác minh nơi cư trú của ông Nguyễn Thành L thì xác định ông Luân vẫn còn đăng ký hộ khẩu tại ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang.

Tại biên bản xác minh tình trạng hôn nhân ngày 14/5/2020 được hàng xóm ông L cho biết: Ông Nguyễn Thành L không có nghề nghiệp ổn định, ban ngày thường đi chơi đến khuya mới về. Ông L và vợ đã ly thân và không còn sống chung từ lâu, bởi ông thấy hiện ông L chỉ ở nhà một mình. Theo ông khả năng hàn gắn của ông L và bà T là rất khó, không còn sống chung nhau.

Tại phiên tòa, bà T bảo lưu ý kiến của mình. Riêng ông L đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt theo thủ tục chung.

Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về tuân thủ pháp luật của Thẩm phán trong ghi lời khai, thủ tục xét xử vắng mặt, xác định quan hệ tranh chấp, tư cách người tham gia tố tụng… là hoàn toàn phù hợp với pháp luật tố tụng dân sự. Đối với thành phần Hội đồng xét xử không có thành viên nào thuộc đối tượng phải thay đổi, việc xét hỏi tại phiên tòa, thời hạn xét xử cũng như thủ tục xét xử vắng mặt được đảm bảo.

Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về nội dung: Yêu cầu của nguyên đơn có căn cứ nên đề nghị chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Bà Ngô Thị Hồng T khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Thành L. Đồng thời, ông L cư trú trên địa bàn huyện A. Xét đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện A.

Về sự vắng mặt của đương sự: Ông Nguyễn Thành L được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông L theo khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông L do tự tìm hiểu yêu thương, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V ngày 12/02/2019 theo quy định nên được xem là hôn nhân hợp pháp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nên thụ lý, giải quyết theo Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình.

Xét yêu cầu của bà T xin ly hôn với ông L, Hội đồng xét xử xét thấy thời gian ly thân giữa bà T và ông L đã lâu nhưng cả hai không có giải pháp hàn gắn. Mâu thuẫn giữa bà T và ông L phù hợp với lời trình bày của hàng xóm sống gần nhà, ông L không có nghề nghiệp ổn định, không chăm lo gia đình. Xét thấy mâu thuẫn của bà T, ông L không thể hàn gắn nên Hội đồng xét xử chấp nhận ly hôn theo yêu cầu của bà T theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về quan hệ con chung: Trong quá trình chung sống bà T và ông L có 01 con chung tên Nguyễn Thành L, sinh ngày 28/7/2029, hiện con chung đang do bà T nuôi dạy. Khi ly hôn, bà yêu cầu được tiếp tục con chung và không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy, từ khi ly thân đến nay thì cháu L đều do bà T nuôi dạy. Do đó, để đảm bảo điều kiện sống của con chung, Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận để cho bà T tiếp tục nuôi dạy con chung là phù hợp. Công nhận sự tự nguyện của bà T không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con chung.

Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Bà T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bà T là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm. Ông L không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 4 Điều 147, các Điều 227, 228, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Ngô Thị Hồng T.

Về hôn nhân: Bà Ngô Thị Hồng T được ly hôn với ông Nguyễn Thành L.

Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 98 ngày 12/02/2019 của Ủy ban nhân dân xã V, huyện A, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Về con chung: Bà Ngô Thị Hồng T được tiếp tục nuôi dạy con chung tên Nguyễn Thành L, sinh ngày 28/7/2019. Công nhận sự tự nguyện của bà T không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con chung.

Bà T cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông L trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

Về án phí: Bà Ngô Thị Hồng T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được chuyển từ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0011731 ngày 14/01/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện A (bà T đã nộp đủ).

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 25/6/2020), các đương sự được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng thời hạn kháng cáo của ông Nguyễn Thành L được tính kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản án tại nơi cư trú.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ