vanban.org

Bản án 235/2017/HSST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 12/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Bùi Thành T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Bùi Thành T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/4/2017. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a, b Khoản 1 Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c Khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Thành T bị xét xử về tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Thành T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 235/2017/HSST
Ngày 12-9-2017

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN TỈNH BÌNH DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Quân Vƣơng.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Từ Anh Tuấn

2. Bà Nguyễn Thụy Vân Hà

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thƣơng, Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huệ, Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 228/2017/HSST ngày 04 tháng 8 năm 2017, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 246/2017/HSST-QĐ ngày 31 tháng 8 năm 2017 đối với bị cáo:

Bùi Thành T, sinh năm 1982 tại tỉnh Thái Bình; nơi cƣ trú: Tổ 32, khu phố 3, phƣờng T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Bùi Trọng A (đã chết) và bà Vũ Thị L, sinh năm 1954; có 02 em ruột, lớn sinh năm 1984, nhỏ sinh năm 1990; tiền án, tiền sự: Không, bị bắt tạm giam ngày 18/4/2017, có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Đào Hoàng Thanh P, sinh năm 1979; địa chỉ: Tổ 11, khu phố T, phƣờng Đ, thị xã DA, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Phan Thị Thanh T, sinh năm 1968; địa chỉ: Tổ 38, khu phố 4, phƣờng Đ, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.

2. Bùi Thị T, sinh năm 1984; địa chỉ: Đƣờng Đặng Văn B, phƣờng T, quận Đ, thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.

- Người làm chứng:

1. Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1998; địa chỉ: Tổ 11, khu phố T, phƣờng Đ, thị xã DA, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt.

2. Đỗ Mạnh C, sinh năm 1991; địa chỉ: Ấp 3, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Khoảng 07 giờ ngày 18/4/2017, Bùi Thành T điều khiển xe mô tô Wave biển số 60L6-9778 màu xanh đến khu vực Làng đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh tìm tài sản để chiếm đoạt. Khoảng 7 giờ 30 phút cùng ngày, T đến dãy trọ thuộc khu phố Tân lập, phƣờng Đông Hoà, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. T thấy phòng trọ số 7 của Đào Hoàng Thanh P và anh Nguyễn Văn Đ khép hờ. T điều khiển xe biển số 60L6-9778 đến trƣớc cửa phòng rồi xuống xe, đẩy nhẹ cửa nhìn vào trong phòng thấy P và Đ đang nằm ngủ dƣới nền gạch. Trên bàn học ở cửa sổ phía bên trái có 01 máy tính xách tay hiệu HP 25 AY131TU, màu xám. Lúc này, T vƣơn ngƣời ra phía trƣớc dùng tay phải lấy máy tính xách tay rồi quay ra ngồi lên xe mô tô và bỏ máy tính vào ba lô màu xanh rêu hiệu Gaoba của T mang theo sẵn, nổ máy xe chạy đi. Cùng lúc này, P và Đ phát hiện truy hô cùng với anh Nguyễn Văn C đang ở gần đấy đuổi theo T đƣợc khoảng 05m thì bắt giữ đƣợc T cùng tang vật.

Vật chứng thu giữ trong vụ án: 01 máy tính xách tay hiệu HP 25 AY131TU màu xám; 01 ba lô màu xanh hiệu Gaoba và xe mô tô Wave biển số 60L6-9778 màu xanh.

Kết luận định giá tài sản số 85/BB.ĐG ngày 04/5/2017 của Hội đồng định giá thị xã Dĩ An kết luận: 01 máy tính xách tay hiệu HP 25 AY131TU màu xám có giá trị 6.500.000 đồng.

Cáo trạng số 228/QĐ – KSĐT ngày 03 tháng 8 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố Bùi Thành T về “Tội trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 138; Điểm g, p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Bùi Thành T mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù.

Trách nhiệm dân sự: Tài sản đã thu hồi trả lại cho ngƣời bị hại Đào Hoàng Thanh P. Ngƣời bị hại Đào Hoàng Thanh P không yêu cầu gì khác.

Xử lý vật chứng: Đối với 01 ba lô màu xanh rêu hiệu Gaoba của bị cáo sử dụng vào việc phạm tội không còn giá trị sử dụng, đề nghị tịch thu tiêu hủy; đối với 01 xe mô tô Wave biển số 60L6-9778 màu xanh đề nghị tịch thu sung công quỹ nhà nƣớc.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì đối với kết luận định giá số 85/BB.ĐG ngày 04/5/2017 của Hội đồng định giá thị xã Dĩ An.

Tại phiên tòa, bị cáo và kiểm sát viên không có ý kiến gì tranh luận.

Trƣớc khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo xin đƣợc giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung: Khoảng 07 giờ 30 ngày 18/4/2017, Bùi Thành T điều khiển xe mô tô Wave biển số 60L6-9778 màu xanh đến phòng trọ số 7 thuộc khu phố Tân lập, phƣờng Đông Hoà, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng, T thấy 01 máy tính xách tay hiệu HP 25 AY131TU, màu xám để trên bàn học trong phòng, còn Đào Hoàng Thanh P và Nguyễn Văn Đ đang nằm ngủ. T lén lút dùng tay phải lấy máy tính xách tay của P rồi ra xe mô tô nổ máy chạy đi. Lúc này, P và Đ phát hiện truy hô cùng với anh Nguyễn Văn C đuổi theo bắt quả tang.

Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của chính bị cáo, ngƣời bị hại và những ngƣời làm chứng tại cơ quan điều tra đã đủ cơ sở kết luận: Hành vi của Bùi Thành T lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại là nguy hiểm cho xã hội. Cáo trạng số 228/QĐ – KSĐT ngày 03 tháng 8 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng và luận tội của kiểm sát viên truy tố bị cáo Bùi Thành T về “Tội trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện tuy là ít nghiêm trọng nhƣng đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của ngƣời bị hại đƣợc pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Vì vậy cần xử phạt bị cáo với mức án tù tƣơng xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo khi xem xét quyết đi ̣nh hình phạt: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo; có thái độ ăn năn hối cải; tài sản bị xâm hại đƣợc thu hồi ngay.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, đã 03 lần bị xét xử về hành vi trộm cắp tài sản; ngày 06/7/2017, Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng ra quyết định đình chỉ vụ án hình sự Cố ý gây thƣơng tích.

Xét, về mức hình phạt nhƣ đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi của bị cáo nên có cơ sở chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Ngƣời bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác nên trách nhiệm dân sự Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

- Xét, 01 ba lô màu xanh rêu hiệu Gaoba bị cáo sử dụng vào việc phạm tội không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Xét, 01 xe mô tô Wave biển số 60L6-9778 màu xanh bị cáo sử dụng làm phƣơng tiện phạm tội thuộc sở hữu của bà Phan Thị Thanh T. Quá trình điều tra, bà T xác định đã bán xe vào năm 2012, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo xác định là tài sản thuộc sở hữu của em gái tên Bùi Thị T, do bị cáo mƣợn sử dụng. Tại cơ quan điều tra chị Bùi Thị T xác định xe mô tô nói trên mua lại của ngƣời khác, cho bị cáo mƣợn sử dụng, cơ quan cảnh sát điều tra đã thông báo trên phƣơng tiện thông tin đại chúng để xác định chủ sở hữu hợp pháp nhƣng không có kết quả. Vì vậy cần trả lại cho chị Bùi Thị T chiếc xe nói trên, trƣờng hợp có tranh chấp thì đƣợc giải quyết bằng vụ án dân sự khác.

Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Bùi Thành T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 138; Điểm g, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Bùi Thành T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/4/2017.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a, b Khoản 1 Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c Khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy 01 ba lô màu xanh rêu hiệu Gaoba.

- Trả lại cho Bùi Thị T 01 xe mô tô Wave biển số 60L6-9778 màu xanh.

(Biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/08/2017, BL 101)

3. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Khoản 1, 2 Điều 99 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Bùi Thành T phải nộp 200.000 (Hai trăm nghin) đồng án phí hình

̀ sự sơ thẩm.

Bị cáo có mă ̣t đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn

15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Ngƣời bị hại, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ