vanban.org

Bản án 234/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 24/09/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các Bị cáo Nguyễn Thanh T Nguyễn Gia V và Nguyễn Minh K phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh T mức án từ 08 (Tám) tháng 05 (Năm) ngày t b ng thời gian c a bị cáo bị tạm giam từ ngày 23/01/2024 đến ngày 24/09/2024. Trả tự do cho bị cáo tại phi n toà. Bị cáo Nguyễn Gia V mức án từ 05 (Năm) tháng 29 (Hai mươi h n) ngày t b ng thời gian c a bị cáo bị tạm giam từ ngà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "BC Nguyễn Thanh T, Nguyễn Gia V và Nguyễn Minh K - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các Bị cáo Nguyễn Thanh T Nguyễn Gia V và Nguyễn Minh K phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ
TỈNH KIÊN GIANG
____________________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 234/2024/HS-ST
Ngày: 24 - 09 - 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ - TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thùy Linh

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Trần Thị Lệ

2/ Bà Đoàn Thị Liễu

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: ng Trần Văn Thiệt - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 09 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 156/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 06 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 188/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 07 năm 2024 và Quyết định hoãn phi n toà số 75/2024/HSST-QĐ ngày 05/09/2024, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Thanh T Tên gọi khác: Trăn , sinh ngày 29/07/2001. Tại thành phố R, tỉnh Kiên Giang; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Số 68 đường T2 khu phố 7 phường R1 thành phố R tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Làm thu ; Trình độ văn hóa: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị Nam Á; V con: Chưa có.

Tiền án tiền sự: Không có.

Bị bắt tạm giam từ ngày 23/01/2024 theo Quyết định truy nã số 202/QĐTN-CSĐT-ĐTTH ngày 16/01/2024 c a Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố R đến nay.

Bị cáo có mặt tại phi n toà.

2. Nguyễn Gia V tên gọi khác: Bi , sinh ngày 02/01/2003. Tại thành phố R, tỉnh Kiên Giang; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Số 208A đường N1 khu phố 7 phường R1 thành phố R tỉnh Ki n Giang; Nghề nghiệp: Làm thu ; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Thanh C và bà Nguyễn Thị Tuyết M; Em ruột: Có 01 người sinh năm 2010; V con: Chưa có.

Tiền án tiền sự: Không có.

Bị bắt tạm giam từ ngày 29/03/2024 đến nay.

3. Nguyễn Minh K Tên gọi khác: Chó Con , sinh ngày 0 /03/2000. Tại thành phố R, tỉnh Kiên Giang; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Số 136 đường Đ1 khu phố 7 phường R1 thành phố R tỉnh Ki n Giang; Nghề nghiệp: Làm thu ; Trình độ văn hóa: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn V và bà Nguyễn Thị B B; Chị em ruột: Có 03 người: Lớn nh t 1998 nh nh t sinh năm 2006; V : Lý M T2 sinh năm 2000 (Chưa đăng ký kết hôn); Con: 01 người sinh ngày 22/9/2024.

Tiền án tiền sự: Không có.

Bị bắt tạm giam từ ngày 16/04/2024 đến nay.

Người bị hại:

1/ Anh Lê Hữu T1, sinh ngày 01/04/2001 Có mặt

Địa chỉ: Số 683/4A đường T3, khu phố 7 phường A thành phố R tỉnh Kiên Giang.

2/ Anh Trần Quốc H, sinh ngày 21/09/2003 (Có mặt

Địa chỉ: Số 683/1 đường T3, khu phố 7 phường A thành phố R tỉnh Ki n Giang.

Ngư i làm ch ng:

1/ Trương Tấn H1, sinh năm 2003 Vắng mặt

Địa chỉ: Số 44/1 đường T2, khu phố 7 phường R1, thành phố R tỉnh Ki n Giang. Hiện đang ch p hành án tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ki n Giang.

2/ Chị Nguyễn Thị K, sinh năm 1982 Vắng mặt

Địa chỉ: Số 90/1 đường N phường R1 thành phố R, tỉnh Ki n Giang.

3/ Trần Văn L1, sinh năm 1990 Vắng mặt

Địa chỉ: Số 16 đường N phường R thành phố R tỉnh Ki n Giang.

4/ Đ Khánh Đ2, sinh năm 2001 Vắng mặt

Địa chỉ: Số 35 đường N phường R1 thành phố R tỉnh Ki n Giang.

5/ Huỳnh Minh H4, sinh năm 2000

Địa chỉ: Nhà tạm gi công an thành phố R.

6/ Nguyễn Thanh H5, sinh năm 2006

Địa chỉ: Số 136 đường Đ1 khu phố 7 phường R1 thành phố R tỉnh Ki n Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án đư c tóm tắt như sau: Vào khoảng 21 giờ ngày 26/01/2022 Trương T n Huy cùng Huỳnh Minh H5 (Tường Đen) Trương T n Đ, Nguyễn Thanh H4 (sinh ngày 02/10/2006), Nguyễn Văn V, Nguyễn Thanh T (Trân) và Nguyễn Minh K ngồi uống bia tại nhà c a chị Nguyễn Thị K, ở số 90/1 đường Nguyễn Gia Thiều, khu phố 7 phường Rạch S i, thành phố Rạch Giá. Cả nhóm uống đư c một lúc thì hết thức ăn n n H4, V và T chạy xe đi đến khu vực cầu Kênh Cụt để mua. Tr n đường đi thì cả ba th y có hai nam thanh niên cầm hung khí chặn đường nên cả ba chạy về kể cho T n H2 và cả nhóm nghe là bị Lê H u T và Trần Quốc H3 chặn đường. Sau khi nghe đư c sự việc thì T n H2, Hiếu r đi đánh T và Trần Quốc H3 thì cả nhóm đồng ý. Lúc này, T n H2 l y cây dao yếm dài khoảng 40 cm l n xe để Tiền chở, còn H5 l y cây búa và K c ng l n xe để H4chở đi tìm ch m hai thanh ni n đã chặn đường H4, V, T (H4 đem theo một khúc gỗ) Trương T n Đ2, Nguyễn Văn V và Nguyễn Minh K cũng đi theo cùng. Khi cả nhóm đi đến khu vực đường Nguyễn Bính, thuộc phường Rạch S i thì nhìn th y Lê H u T đang điều khiển xe chở Trần Quốc H3 đi đến nên liền rư t theo (T và Quốc H3 đang tr n đường đi đến nhà bạn chơi). Khi đến trước nhà số 49 đường Nguyễn Gia Thiều phường Rạch S i thì nhóm c a Trương T n H2 đuổi kịp xe c a T và Quốc H3. Ngay lúc này Trương T n H2 xuống xe xông đến dùng dao chém nhiều nhát trúng tay trái c a Quốc H3, còn H5 cũng xông đến dùng búa chém một nh t trúng tay phải c a Quốc H3 gây thương tích. Th y Quốc H3 bị chém, T liền b chạy thì bị Trương T n H2 đuổi theo dùng dao chém trúng tay phải, chân phải gây thương tích. Khi T n H2, H5 ch m Quốc H3 và T1 thì T, H4 Đ3, V đứng b n ngoài quan sát nếu T1 và Quốc H3 kháng cự lại thì cả nhóm s đánh lại T1 và Quốc H3 tiếp T n H2 và H5. Sau khi gây thương tích cho T1 và Quốc H3 xong thì cả nhóm c a H5 và T n H2 b đi về. Ngày 21/02/2022, Trần Quốc H3 và Lê H u T làm đơn y u cầu giám định thương tích và khởi tố vụ án. Ngày 10/10/2022 Trương T n H2 Huỳnh Minh H5 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá khởi tố bị can và đã đư c Toà án nhân dân thành phố R đưa ra x t xử tại bản án số 125/2023/HS-ST ngày 19/07/2024 và Bản án số 23/2024/HS-ST ngày 16/03/2024. Ngày 11/12/2023, Nguyễn Thanh T bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá khởi tố bị can và tách vụ án hình vụ để tiếp tục điều tra hành vi c a Nguyễn Thanh T. Nguyễn Thanh T bị bắt tạm giam 23/01/2024 theo Quyết định truy nã số 202/QĐTN-CSĐT-ĐTTH ngày 16/01/2024 c a Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố R đến nay. Sau đó lần lư t các ngày 05/03/2024 và 07/03/2024 Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can và bắt tạm giam đối với Nguyễn Minh K và Nguyễn Gia V để điều tra theo quy định.

Bị cáo Nguyễn Thanh T Nguyễn Gia V Nguyễn Minh K đã Ki nhận hành vi phạm tội c a bị cáo như đã n u tr n.

Đại diện Viện Kiểm sát gi quyền công tố tại phiên tòa vẫn gi nguyên quan điểm truy tố hành vi c a các bị cáo Nguyễn Thanh T Nguyễn Gia V Nguyễn Minh K đ yếu tố c u thành tội “Cố ý gây thương tích”.

* Vật chứng trong vụ án:

- 01 (một) cây gỗ dài 50 cm, có hình dạng gậy chày, một đầu to và một đầu nh , (bút lục số 73a).

* Tại kết luận giám định pháp y về thương tích số 185/KL-PY ngày 04/04/2022 c a Trung tâm pháp y tỉnh Kiên Giang, kết luận thương tích c a Trần Quốc H3 như sau:

1. D u hiệu chính qua giám định:

- Sẹo cánh tay trái (02 vết) cảng tay trái.

- Vết thương bàn tay phải đứt gân duỗi ngón gãy hở xương đố gần ngón II đã đư c phẫu thuật khâu gân g p và điều trị. Hiện tại xương chưa liền và còn cứng khớp bàn ngón II tay phải.

2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây n n hiện tại là: 16% (Mười sáu phần trăm).

3. Vật gây thương tích: Vật sắc, (bút lục số 65 đến 67).

* Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 186/KL-PY ngày 04/4/2022 c a Trung tâm pháp y tỉnh Kiên Giang kết luận thương tích c a Lê H u T như sau:

1. D u hiệu chính qua giám định:

- Sẹo cánh tay phải, cẳng chân phải và sẹo phẫu thuật.

- Mẻ (đứt) v xương cánh tay phải.

2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây n n hiện tại là: 08% vùng lưng trái lưng phải và sẹo phẫu thuật;

3. Vật gây thương tích: Vật sắc (bút lụt số: 62 đến 64).

Quá trình điều tra và tại phi n tòa các bị cáo bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận c a giám định pháp y về thương tích nêu trên.

Tại bản cáo trạng số: 170/CT-VKSRG, ngày 12 tháng 06 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Ki n Giang đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thanh T Nguyễn Gia V Nguyễn Minh K về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội c a các bị cáo phù h p với bản kết luận điều tra c a Cơ quan điều tra Công an thành phố Rạch Giá và bản cáo trạng truy tố c a Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá tỉnh Ki n Giang vẫn gi nguy n quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng x t xử tuy n bố các bị cáo Nguyễn Thanh T Nguyễn Gia V Nguyễn Minh K về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58; Khoản 1 Điều 54; Điều 58 Bộ luật Hình sự và khoản 5 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị:

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh T mức án từ 08 (Tám) tháng 05 (Năm) ngày t b ng thời hạn tạm giam c a bị cáo trả tự do cho bọ cáo tại phi n toà.

Bị cáo Nguyễn Gia V mức án từ 05 (Năm) tháng 29 (Hai mươi h n) ngày t b ng thời hạn tạm giam c a bị cáo trả tự do cho bị cáo tại phi n toà.

Bị cáo Nguyễn Minh K mức án từ 05 (Năm) tháng 10 (Mư i) ngày t b ng thời hạn tạm giam c a bị cáo trả tự do cho bị cáo tại phi n toà.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng.

Về xử lý vật chứng: Đã xử lý vật chứng tại bản án số 125 ngày 19/07/2023 n n không x t.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại Trần Quốc H3 yêu cầu bồi thường chi phí điều trị, tiền công lao động với tổng số tiền là 56.000.000 đồng; bị hại Lê H u T yêu cầu bồi thường chi phí điều trị, tiền công lao động với tổng số tiền là 50.000.000 đồng. Trương T n H2 đồng ý bồi thường theo yêu cầu c a các bị hại và đã bồi thường đư c số tiền cho mỗi người bị hại là 5.000.000 đồng, số tiền còn lại Trương T n H2 s tiếp tục bồi thường theo quyết định trong Bản án số 125 ngày 19/7/2023 c a Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá. Đối với bị cáo Huỳnh Minh Hiếu đã tự nguyện bồi thường số tiền 5.000.000 đồng cho bị hại Trần Quốc H3 đã bồi thường xong. Các bị cáo Nguyễn Thanh T Nguyễn Gia V , Nguyễn Minh K đã tự nguyện bồi thường cho các bị hại Trần Quốc H3 và L H u T1 mỗi người 5.000.000 đồng đã nhận T xong.

* Lời nói sau cùng của bị cáo: Các bị cáo xin giảm nh hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Tr n cơ sở nội dung vụ án căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đư c tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng c a Cơ quan điều tra Công an thành phố Rạch Giá Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, Kiểm sát vi n trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, th tục quy định c a Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định c a Cơ quan tiến hành tố tụng người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi quyết định tố tụng c a Cơ quan tiến hành tố tụng người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều h p pháp.

Hội đồng xét xử xét th y, tại phiên toà hôm nay các bị cáo Nguyễn Thanh T Nguyễn Gia V Nguyễn Minh K đã khai nhận hành vi phạm tội c a mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã n u; lời nhận tội trên phù h p với lời khai c a các bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, c a nh ng người tham gia tố tụng và phù h p với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào khoảng 21 giờ ngày 26/01/2022 tại trước số nhà 49 đường Nguyễn Gia Thiều phường Rạch S i thành phố R tỉnh Ki n Giang do nghi ngờ L H u T1 và Trần Quốc H3 cầm dao chặn đánh bạn mình n n Trương T n H2 Huỳnh Minh H5 r Nguyễn Thanh H4 Nguyễn Gia V, Nguyễn Thanh T và Trương T n Đ3 đi đánh T1 và Quốc H3 và cả nhóm đồng ý. Khi đến nơi thì T n Huy cầm dao và Huỳnh Minh H5 cầm búa đã ch m gây thương tích cho L H u T1 và Trần Quốc H3. Qua kết quả giám định thương tích tỷ lệ tổn thương cơ thể c a Trần Quốc H3 là 16% và L H u T1 là 08%). Còn T Huỳnh Đ3, K V có vai trò đứng ngoài quan sát nếu T1 và Quốc H3kháng cự lại thì cả nhóm tiếp T n H2 và H5 đánh T1 và Quốc H3. Hành Vi c a Trương T n H2 và Huỳnh Minh H5 trước đó đã đư c Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố R khởi tố và Toà án nhân dân thành phố R đã đưa ra x t xử theo quy định.

Ngày 11/12/2023, Nguyễn Thanh T bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá khởi tố bị can, đến ngày 23/01/2024, T bị bắt theo quyết định truy nã. Sau đó lần lư t các ngày 05/03/2024 và 07/03/2024 Nguyễn Gia V và Nguyễn Minh K bị khởi tố và bắt tạm giam để điều tra.

Từ nh ng chứng cứ đã n u tr n, có đ cơ sở để kết luận hành vi c a các bị cáo Nguyễn Thanh T Nguyễn Gia V Nguyễn Minh K về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự như kết luận c a Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Ki n Giang là có căn cứ đúng người, đúng tội đúng pháp luật.

X t về hành vi phạm tội c a các bị cáo là nghi m trọng và nguy hiểm cho xã hội các bị cáo thực hiện tội phạm có ý thức và có năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bản thân các bị cáo cũng nhận thức đư c r ng tính mạng sức kh e con người là vốn quý luôn đư c pháp luật tôn trọng và bảo vệ b t kỳ ai xâm phạm trái ph p đều bị xử lý nghi m minh. Trong vụ án này T n H2 và H5 là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội đã dùng dao và búa (là loại hung khí nguy hiểm) ch m bị hại Trần Quốc H3 và L H u T1 gây thương tích. Hành vi phạm tội c a các bị cáo trực tiếp xâm phạm trái ph p đến sức kh e c a các bị hại thể hiện sự xem thường tính mạng sức kh e c a người khác xem thường pháp luật từ hành vi này c a các bị cáo còn ảnh hưởng lâu dài đến cuộc sống c a các bị hại gây dư luận xôn xao và b t bình trong quần chúng nhân dân làm tăng th m sự phức tạp về tình hình trật tự trị an địa phương. Các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự. Trong vụ việc này các bị cáo Nguyễn Thanh T Nguyễn Gia V Nguyễn Minh K tham gia với vai trò đồng phạm giúp sức không có việc tổ chức phân công nhiệm vụ n n xác định giũ vai trò đồng phạm giản đơn các bị cáo đồng ý đi c ng theo lời r r c a Trương T n H2 các bị cáo đứng b n ngoài quan sát nếu đồng bọn có bị bị hại đánh thì vào tiếp và các bị cáo chưa trực tiếp thực hiện hành vi gây thường tích cho các bị hại n n cần xem x t hình phạt cho các bị cáo nhẹ hơn Trương T n H2 và Huỳnh Minh H5 là ph h p. Tuy nhiên Bị cáo T sau khi bị khởi tố đã b trốn và bị truy nã n n cần phải xem x t hình phạt cao hơn các bị cáo V, K.

Về tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải bị cáo T, V và K tự nguyện bồi thường cho các bị hại Trần Quốc Huy L H u T1 mỗi người 5.000.000 đồng nên bị cáo H2, V và K đư c hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra các bị hại Quốc H3, T1 có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo T, V và K, tại phi n toà bị hại T1 Quốc H3 cũng tha thiết xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo T, V, K nên Hội đồng x t xử thống nh t cho các bị cáo hưởng th m tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Qua xem x t đánh giá tính ch t, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhân thân c a các bị cáo cũng như y u cầu c a các bị hại Quốc H3 và T1 xin giảm nhẹ hình phạt đối với các bị cáo; Do đó Hội đồng xét xử thống nh t xử phạt bị cáo mức án tương xứng b ng hình phạt tù có thời hạn, giam gi các bị cáo trong thời gian nh t định để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành một công dân tốt, sống có ích cho xã hội. Qua xem thời gian bị tạm giam cho th y các bị cáo cũng có thái độ ăn năn hối cải biết bản thân đã sai. Đối chiếu quy định c a Bộ luật Hình sự cho th y các bị cáo T, V và K đ điều kiện áp dụng thêm khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự nên Hội thống xét xử quyết định cho bị cáo hưởng một mức án dưới mức th p nh t c a khung hình phạt là phù h p quy định pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai c a các bị cáo tại phi n tòa đều cho th y các bị cáo không có thu nhập ổn định. Do đó Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đã xử lý xong tại bản án số 125 ngày 19/07/2023 c a Toà án nhân dân thành phố R n n không xem x t.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo T, V và K mỗi người tự nguyện bồi thường cho các bị hại Quốc H3 H u T1 mỗi người số tiền 5.000.000 đồng đã nhận xong. Tại phi n toà bi cáo Nguyễn Thanh T tự nguyện bồi thường th m cho các bị hại mỗi người 1.000.000 đồng sau khi bản án có hiệu lực pháp luật Hội đồng x t xử ghi nhận.

X t đề nghị c a Viện Kiểm sát nhân dân thành phố R đề nghị tại bản luận tội đối với bị cáo là phù h p nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Đối với Nguyễn Thanh H4 đã có hành vi chở bị cáo H5 đi đánh gây thương tích cho các bị hại. Tuy nhiên, khi thực hiện tội phạm H4 chưa đ 16 tuổi n n chưa đ yếu tố c u thành tội phạm Cơ quan điều tra không xem xét xử lý hình sự và đã ra quyết định xử phạt hành chính theo quy định.

Đối với Trương T n Đ3 có c ng cả nhóm đi tìm đánh các bị hại. Tuy nhi n qua điều tra căn cứ tài liệu chứng cứ đã thu thập chưa đ để xác định đư c tuổi c a Đ3 và hiện tại Đ3 đã vắng mặt tại địa phương chưa thể mời làm việc đư c cũng không thể tiến hành đưa đi giám định độ tuổi n n chưa có đ căn cứ để xử lý đối với đức. Cơ quan điều tra s tiếp tục điều tra làm rõ, khi có đ căn cứ s tiếp tục đề xu t xử lý sau.

Vì các l tr n,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b s khoản 1 2 Điều 51; Điều 38; Khoản 1 Điều 54; Điều 58 Bộ luật Hình sự và khoản 5 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên bố: Các Bị cáo Nguyễn Thanh T Nguyễn Gia V và Nguyễn Minh K phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh T mức án từ 08 (Tám) tháng 05 (Năm) ngày t b ng thời gian c a bị cáo bị tạm giam từ ngày 23/01/2024 đến ngày 24/09/2024. Trả tự do cho bị cáo tại phi n toà.

Bị cáo Nguyễn Gia V mức án từ 05 (Năm) tháng 29 (Hai mươi h n) ngày t b ng thời gian c a bị cáo bị tạm giam từ ngày 29/03/2024 đến ngày 24/09/2024. Trả tự do cho bị cáo tại phi n toà.

Bị cáo Nguyễn Minh K mức án từ 05 (Năm) tháng 10 (Mư i) ngày t b ng thời gian c a bị cáo bị tạm giam từ ngày 16/04/2024 đến ngày 24/09/2024. Trả tự do cho bị cáo tại phi n toà.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo T, V và K tự nguyện bồi thường cho các bị hại Quốc H3 và H u T1 mỗi người 5.000.000 đồng (Năm tri u ng) đã nhận xong. Ghi nhận sự tự nguyện c a bị cáo Nguyễn Thanh T bồi thường th m cho các bị hại mỗi người 1.000.000 đồng sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Buộc các bị cáo Nguyễn Thanh T Nguyễn Gia V và Nguyễn Minh K mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn ng).

Quyền kháng cáo: Các bị cáo Nguyễn Thanh T Nguyễn Gia V và Nguyễn Minh K, các bị hại L H u T1 Trần Quốc H3 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 24/09/2024). * Nơi nhận:

Cỡ chữ