vanban.org

Bản án 234/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Đỗ Minh Đ.

Về nuôi con chung: Giao con chung cháu Đỗ Vĩnh Nghĩa, sinh ngày 16-11-2015 cho chị H nuôi dưỡng; anh Đ không phái cấp dưỡng nuôi con cho chị H. Chị H, anh Đ có mọi quyền, nghĩa vụ đối với con chung. Do cháu Nghĩa đang do chị H nuôi dưỡng nên anh Đ không phải thực hiện nghĩa vụ giao con. Về án phí dâ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị H- Nguyễn Minh Đ"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Đỗ Minh Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HẢI HẬU
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 234/2023/HNGĐ-ST
Ngày 07-9-2023
V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly
hôn giữa chị H và anh Đ”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Hòe.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Việt Hùng;

Ông Lưu Văn Đê.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Thắm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thọ - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 176/2023/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 148/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 93/2023/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1993. Địa chỉ: Xóm 5, xã HL, huyện HH, tỉnh Nam Định.

- Bị đơn; Anh Đỗ Minh Đ, sinh năm 1995. Địa chỉ: Xóm 5, xã HT, huyện HH, tỉnh Nam Định.

(Chị H vắng mặt có lý do; anh Đ vắng mặt lần 2 không lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 16/06/2023, biên bản lấy lời khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:

Chị Nguyễn Thị H và anh Đỗ Minh Đ đăng ký kết hôn ngày 18-01-2016 tại Uỷ ban nhân dân xã HT, huyện HH, tỉnh Nam Định trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 8 tháng thì pH sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, quan điểm sống khác nhau, anh Đ không quan tâm, chăm lo cuộc sống gia đình. Vợ chồng sống ly thân, chấm dứt quan hệ tình cảm từ cuối năm 2017 đến nay. Trong thời gian sống ly thân, vợ chồng đã được đôi bên gia đình hòa giải nhưng không thành. Nay chị H nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên xin được ly hôn với anh Đ.

Về con chung: Chị H, anh Đ có một con chung là Đỗ Vĩnh Nghĩa, sinh ngày 16-11-2015. Hiện nay, cháu Nghĩa đang do chị H nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung; không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: Chị H và anh Đ không có tài sản chung, không phải thực hiện nghĩa vụ chung về tài sản nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Toà án đã tống đạt Thông báo thụ lý số 176/TB-TLVA ngày 27/6/2023; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ hợp lệ cho anh Đỗ Minh Đ nhưng anh Đ không đến Tòa án làm việc, không đưa ra lý do của sự vắng mặt và không gửi các văn bản trình bày ý của mình về yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H. Đồng thời, Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định cũng tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cho anh Đ nhưng đến nay anh Đ vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần 2 không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu pH biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 21, Điều 262 Bộ luật Tố tụng dân sự, thông qua việc kiểm sát tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội Đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Căn cứ quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, có đủ căn cứ xử cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Đỗ Minh Đ. Về con chung: Giao con chung cháu Đỗ Vĩnh Nghĩa, sinh ngày 16-11-2015 cho chị H nuôi dưỡng, anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con cho chị H. Về tài sản: Do các đương sự không yêu cầu nên không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tạiphiên toà, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H xin xét xử vắng mặt; bị đơn anh Đỗ Minh Đ đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ nhưng vắng mặt lần hai không lý do. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị H, anh Đ là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị H và anh Đỗ Minh Đ là quan hệ hôn nhân hợp pháp vì được xây dựng trên cơ sở tự nguyện và được Ủy ban nhân dân xã Hải Tây, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định đăng ký kết hôn vào ngày 18-01-2016.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị H đối với anh Đ thì thấy: Trong suốt quá trình chung sống, do tính tình, quan điểm sống không hợp; anh Đ không chăm lo đến cuộc sống gia đình nên chị H, anh Đ thường xuyên mâu thuẫn, cãi chửi nhau. Chị H, anh Đ đã sống ly thân, chấm dứt mọi quan hệ tình cảm, trách nhiệm từ cuối năm 2017 đến nay. Trong thời gian ly thân; chị H, anh Đ đã được gia đình hòa giải nhưng không thành. Đến nay, anh Đ đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, đã biết được việc chị H làm đơn xin ly hôn nhưng không có văn bản ghi ý kiến của mình gửi cho Tòa án, không có mặt tại các buổi làm việc của Tòa án chứng tỏ anh Đ không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị H. Trên cơ sở kết quả xác minh tại địa phương, căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của các đương sự đã có đủ cơ sở xác định: Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H, anh Đ đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu của chị H, cho chị H ly hôn anh Đ là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị H và anh Đ có một con chung là Đỗ Vĩnh Nghĩa, sinh ngày 16-11-2015, hiện đang do chị H nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị H nguyện vọng tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.

Xét yêu cầu của chị H về việc nuôi dưỡng, chăm sóc con chung chưa thành niên sau ly hôn thì thấy: Từ khi chị H, anh Đ ly thân, cháu Nghĩa do chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Nay chị H nhận nuôi con chung, không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng; cháu Nghĩa có nguyện vọng xin ở với chị H. Trong khi đó, suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án, anh Đ không có ý kiến gì về việc nuôi dưỡng, chăm sóc con chung. Vì vậy, cần chấp nhận đề nghị của chị H, giao cháu Nghĩa cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng đến khi con chung thành niên; anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con cho chị H là phù hợp với quy định tại các Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung:

Quá trình giải quyết vụ án, chị H xác định vợ chồng không có tài sản chung, không phải thực hiện nghĩa vụ chung về tài sản nên không yêu cầu Toà án giải quyết. Anh Đ không có ý kiến, yêu cầu gì về tài sản nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị H nộp án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Đỗ Minh Đ.

2. Về nuôi con chung: Giao con chung cháu Đỗ Vĩnh Nghĩa, sinh ngày 16-11-2015 cho chị H nuôi dưỡng; anh Đ không phái cấp dưỡng nuôi con cho chị H. Chị H, anh Đ có mọi quyền, nghĩa vụ đối với con chung. Do cháu Nghĩa đang do chị H nuôi dưỡng nên anh Đ không phải thực hiện nghĩa vụ giao con.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc chị Nguyễn Thị H phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tại biên lai số 0002693 ngày 27-6-2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hải Hậu. Chị Nguyễn Thị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ