vanban.org

Bản án 234/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Tố Q được ly hôn với anh Nguyễn Văn K. Chị Q, anh K không phải cấp dưỡng giữa vợ chồng sau khi ly hôn. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị Q yêu cầu ly hôn với anh K"
  • Tòa quyết gì? ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 119 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH, TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 234/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 12/07/2023

HUYỆN CHỢ LÁCH Độc lập - Tự do - Hạnh phúc _____________ ___________ V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH, TỈNH BẾN TRE

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Ngọc Tú. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lê Thị Thúy Phượng. 2. Bà Dương Thị Mỹ Trân. - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Lách tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thanh Thùy - Kiểm sát viên. Ngày 12 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 208/2023/TLST - HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự: * Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Tố Q - Sinh năm: 2002; địa chỉ: ấp ĐT, xã TA, huyện MCB, tỉnh Bến Tre (vắng mặt, có yêu cầu giải quyết vắng mặt). * Bị đơn: Anh Nguyễn Văn K - Sinh năm: 2001; địa chỉ: ấp PH, xã PS, huyện CL, tỉnh Bến Tre (vắng mặt, có yêu cầu giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày:

Về hôn nhân: Năm 2021, chị Nguyễn Thị Tố Q và anh Nguyễn Văn K có tiến đến hôn nhân. Hôn nhân giữa anh chị là tự nguyện, anh chị có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Phú Sơn, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre vào ngày 18/11/2021. Sau khi kết hôn anh chị sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn mà nguyên nhân là do cuộc sống chung có nhiều bất đồng quan điểm nên anh chị hay cãi vả và đã sống ly thân từ năm 2023 đến nay. Cho rằng tình cảm vợ chồng là không còn, không thể hàn gắn để đoàn tụ. Vì vậy, chị Q yêu cầu được ly hôn với anh K. Chị không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng sau khi ly hôn. Về con chung: Anh chị có 01 người con chung là Nguyễn Thị Khánh B - Sinh ngày 25/01/2022, hiện tại con đang sống với chị Q. Sau khi ly hôn chị Q yêu cầu nuôi con mà không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận. Về nợ chung: Không có. Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn trình bày: Về hôn nhân: Về thời gian kết hôn, thời gian sống chung hạnh phúc, về con chung, về thời gian kết hôn lại và về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn thì anh đồng ý với lời trình bày của chị Q. Cho rằng tình cảm vợ chồng là không còn nên trước yêu cầu ly hôn của chị Q thì anh đồng ý. Về con chung: Người con chung giữa anh chị là Nguyễn Thị Khánh B - Sinh ngày 25/01/2022 sẽ do chị Q tiếp tục nuôi dưỡng. Anh sẽ không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Không có. Về nợ chung: Không có. Phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên: Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng về trình tự, thủ tục tố tụng. Về quan điểm giải quyết vụ án: Về hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Q đối với anh K. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Khánh B - Sinh ngày 25/01/2022 cho chị Q tiếp tục nuôi dưỡng. Ghi nhận việc chị Q không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: Chị Q, anh K không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Về về nợ: Chị Q, anh K khai không có nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào diễn biến tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về tố tụng: Đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do các bên tranh chấp và nguyên đơn có đơn khởi kiện nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền và phù hợp với quy định khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Do vậy, việc Tòa án không thể tiến hành hòa giải và việc xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. [2] Về hôn nhân: Việc kết hôn giữa chị Nguyễn Thị Tố Q và anh Nguyễn Văn K là tự nguyện, anh chị có đăng ký kết hôn tại UBND xã Phú Sơn, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre vào ngày 18/11/2021. Đây là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ. Tuy nhiên, sau khi kết hôn và chung sống hạnh phúc một thời gian thì đời sống hôn nhân có nhiều mâu thuẫn và anh chị thống nhất ly hôn. Xét thấy, việc thuận tình ly hôn giữa các đương sự là tự nguyện, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Do các đương sự không yêu cầu gì về việc cấp dưỡng giữa vợ chồng sau khi ly hôn nên không xem xét giải quyết. [3] Về con chung: Các đương sự thống nhất sau khi ly hôn cháu Nguyễn Thị Khánh B - Sinh ngày 25/01/2022 sẽ do chị Q tiếp tục nuôi dưỡng. Xét thấy, thỏa thuận này là tự nguyện nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Ghi nhận việc chị Quyên không yêu cầu anh Khá cấp dưỡng nuôi con. [4] Về tài sản: Chị Q, anh K không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. [5] Về về nợ: Chị Q, anh K khai không có nên không xem xét giải quyết. [6] Xét đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. [7] Về án phí: Nguyên đơn phải nộp án phí theo quy định. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 55, 58, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 119 của Luật hôn nhân và gia đình; Các điều 147, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 26, 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử: 1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Tố Q được ly hôn với anh Nguyễn Văn K. Chị Q, anh K không phải cấp dưỡng giữa vợ chồng sau khi ly hôn. 2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Khánh B - Sinh ngày 25/01/2022 cho chị Q tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, hiện nay con đang sống với chị Q. Ghi nhận việc chị Q không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con mà không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lợi dụng việc thăm con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm con của người không trực tiếp nuôi con. Vì lợi ích của con chung cha, mẹ hoặc cơ quan có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con. 3. Về tài sản: Chị Q, anh K không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. 4. Về về nợ: Chị Q, anh K khai không có nên không xem xét giải quyết. 5. Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp 300.000đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0004449 ngày 12/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre. Nguyên đơn đã nộp đủ án phí. 5. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ