vanban.org

Bản án 234/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, Mễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn P. Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận anh Nguyễn Văn P và chị Lê Thị Trà M thuận tình ly hôn với nhau. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Văn P - Lê Thị Trà M"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, Mễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAI LẬY
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 234/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 24/11/2022
V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Nhanh.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Tư;

2. Bà Nguyễn Thị Kim Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thùy Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy.

Trong ngày 24 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cai Lậy mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 534/2022/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 219/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1992, (có mặt);

Địa chỉ: Ấp M, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

- Bị đơn: Chị Lê Thị Trà M, sinh năm 1994, (có mặt);

Địa chỉ: Ấp M, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai ghi ngày 16/9/2022, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn anh Nguyễn Văn P trình bày:

Anh và chị M xác lập quan hệ hôn nhân vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Thời gian đầu, anh chị chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2022 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng không tin tưởng nhau dẫn đến thường xuyên tranh cải làm cho cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc. Anh chị đã sống ly thân từ tháng 6/2022 đến nay không hàn gắn được tình cảm. Nhận thấy, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay anh yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh xin ly hôn với chị Lê Thị Trà M.

- Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Gia Bảo, sinh ngày 07/4/2016 và Nguyễn Duy Khang, sinh ngày 21/01/2018. Khi ly hôn, anh yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Duy Khang, đồng ý giao con chung tên Nguyễn Gia Bảo cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng. Anh và chị M không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Theo tờ tự khai ghi ngày 27/10/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị Lê Thị Trà M trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân, con chung như anh P trình bày là đúng. Quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do anh P có mối quan hệ tình cảm với người khác nên vợ chồng xảy ra cự cãi nhau, hiện anh chị đã sống ly thân. Nay anh P xin ly hôn chị đồng ý.

- Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Gia B, sinh ngày 07/4/2016 và Nguyễn Duy K, sinh ngày 21/01/2018. Hiện cháu B đang sống với chị còn cháu K đang sống với anh P. Khi ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu anh P phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn anh P có đơn yêu cầu ly hôn với chị M, bị đơn chị M cư trú tại ấp M, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Do đó, quan hệ pháp luật trong vụ án được xác định là tranh chấp “Xin ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện C theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, anh P giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, chị M giữ nguyên ý kiến trình bày, Hội đồng xét xử nhận thấy:

2.1. Về quan hệ hôn nhân: Anh P và chị M kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được Ủy ban nhân dân xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 128 vào ngày 14/9/2015, được xem là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, anh P và chị M thống nhất thuận tình ly hôn với nhau nên được Hội đồng xét xử ghi nhận.

2.2. Về con chung: Quá trình chung sống anh P và chị M có 02 con chung tên Nguyễn Gia B, sinh ngày 07/4/2016 và Nguyễn Duy K, sinh ngày 21/01/2018. Xét thấy, từ khi anh P và chị M sống ly thân nhau thì cháu Bảo sống với chị M còn cháu K thì sống với anh P, cuộc sống sinh hoạt đã ổn định. Tại phiên tòa hôm nay, cả chị M và anh P đều xác định anh chị có đủ điều kiện để nuôi con tốt và hiện cháu B và cháu K vẫn phát triển ổn định. Tuy nhiên, chị M làm công nhân mức thu nhập hàng tháng từ 7.500.000 đồng đến 8.000.000 đồng còn anh P thì làm cho công ty thủy sản thu nhập mỗi tháng 12.000.000 đồng. Như vậy, với mức lương từ 7.500.000 đồng đến 8.000.000 đồng mỗi tháng của chị M khó đảm bảo để nuôi 02 con chung. Do đó, để tiếp tục ổn định cuộc sống cho cháu B và cháu K, đồng thời tránh xáo trộn về mặt tâm lý cho trẻ con, giúp cho các cháu có được sự phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh P, giao cháu Nguyễn Gia B cho chị M tiếp tục nuôi dưỡng, anh P tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Duy K.

2.3. Về cấp dưỡng: Anh P và chị M chưa yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

2.4. Về tài sản chung, nợ chung: Anh P và chị M khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Anh P phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, Mễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, Mễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn P.

1. Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận anh Nguyễn Văn P và chị Lê Thị Trà M thuận tình ly hôn với nhau.

2. Về con chung:

- Giao con chung tên Nguyễn Gia B, sinh ngày 07/4/2016 cho chị Lê Thị Trà M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

- Giao con chung tên Nguyễn Duy K, sinh ngày 21/01/2018 cho anh Nguyễn Văn P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Anh P, chị M được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được quyền ngăn cản.

- Anh P, chị M chưa ai phải cấp dưỡng nuôi con do anh P và chị M chưa có yêu cầu.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Anh P phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0016713 ngày 06/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Tiền Giang nên anh P đã nộp xong án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ