vanban.org

Bản án 234/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phương D.

Buộc chị Trần Thúy L thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phương D số tiền 99.361.613 đồng (Chín mươi chín triệu ba trăm sáu mươi mốt nghìn sáu trăm mười ba đồng) (Trong đó, nợ gốc là 74.000.000 đồng, lãi trong hạn là 15.308.000 đồng, lãi quá hạn là 10.053.613 đồng) và khoản tiền lãi của số t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng TMCP Phương Đ - Trần Thúy L"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phương D.
  • Căn cứ chính? Điều 108 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN VĂN THỜI
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 234/2022/DS-ST
Ngày: 20 - 9 - 2022
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Hồng Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Duyên Văn Hiền

Bà Nguyễn Huỳnh Hưỡng

- Thư ký phiên toà: Ông Phan Việt Xô là Thư ký Toà án của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

Ngày 20 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 211/2022/TLST-DS ngày 11 tháng 5 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 173/2022/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 7 năm 2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phương D; Địa chỉ: 41 & 45, đường Lê Duẩn, phường Bến Nghé, Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trịnh Văn T, sinh năm 1965 – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền: Chị Nguyễn Diễm P, sinh năm 1996 – Nhân viên thu hồi nợ hiện trường – Phòng thu hồi nợ khối Bán lẻ Ngân hàng TMCP Phương Đ – Chi nhánh Cà Mau – Phòng giao dịch Sông Đốc; Địa chỉ: Số 09, đường lộ Sông Đốc, Khóm 10, thị trấn Sông Đốc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau (Có mặt).

Bị đơn: Chị Trần Thúy L, sinh năm 1982; Cư trú: Khóm 8, thị t, huyện T, tỉnh C . (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 21/4/2022 và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là chị Nguyễn Diễm P trình bày:

Cùng ngày 31/01/2019 chị Trần Thúy L có ký kết hợp đồng tín dụng số: 20/2019/HĐTD-OCB-CN và Khế ước nhận nợ số: 20/2019/KUNN-OCB-CN với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phương D – Chi nhánh Cà Mau - Phòng giao dịch Sông Đốc, để vay số tiền 120.000.000 đồng.

- Thời hạn vay: 60 tháng.

- Mục đích vay: Tiêu dùng tín chấp cán bộ nhân viên.

- Lãi suất vay: Trong 03 tháng đầu là 15,8%/năm. Từ tháng thứ 04 trở đi áp dụng lãi suất cho vay điều chỉnh định kỳ 06 tháng/lần theo công thức tính lãi suất như sau: Lãi suất cho vay = Lãi suất cơ sở + Biên độ lãi suất. Trong đó, lãi suất cơ sở: Lãi suất cơ sở kỳ hạn 13 tháng theo biểu lãi suất của Ngân hàng Phương Đ ban hành từng thời kỳ. Biên độ lãi suất: Tối thiểu 8%/năm.

- Lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất vay trong hạn.

- Phương thức vay: Trả góp.

+ Trả nợ gốc: Bên vay trả nợ gốc cho Ngân hàng Phương Đ theo định kỳ hàng tháng vào ngày 15 của tháng. Số tiền trả đều mỗi kỳ là 2.000.000 đồng. Kỳ trả nợ gốc đầu tiên vào ngày 15/02/2019.

+ Trả nợ lãi: Bên vay trả nợ lãi cho Ngân hàng Phương Đ theo định kỳ 01 tháng/01 lần vào ngày 15 của tháng theo dư nợ thực tế. Kỳ trả lãi đầu tiên vào ngày 15/02/2019.

- Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, chị L đã thanh toán cho Ngân hàng Phương Đ tổng số tiền 75.548.035 đồng (Trong đó, nợ gốc là 46.000.000 đồng và nợ lãi là 29.548.035 đồng).

- Tổng dư nợ của chị L tại Ngân hàng tính đến ngày 20/9/2022 là 99.361.613 đồng (Trong đó, nợ gốc là 74.000.000 đồng, lãi trong hạn là 15.308.000 đồng, lãi quá hạn là 10.053.613 đồng). Do chị L đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ thanh toán nợ theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng nên nay Ngân hàng Phương Đ yêu cầu chị L thanh toán số tiền tạm tính đến ngày 20/9/2022 là 99.361.613 đồng (Trong đó, nợ gốc là 74.000.000 đồng, lãi trong hạn là 15.308.000 đồng, lãi quá hạn là 10.053.613 đồng) và các khoản lãi, chi phí phát sinh tính theo Hợp đồng tín dụng cho đến khi trả hết nợ vay.

Đối với bị đơn chị Trần Thúy L: Tòa án đã triệu tập hợp lệ chị L để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; tham dự phiên tòa nhưng chị L không có mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của chị L về nội dung khởi kiện của Ngân hàng TMCP Phương Đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn chị Trần Thúy L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà không có mặt tại phiên tòa. Do đó căn cứ vào Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị L.

Xét yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Phương Đ (Gọi tắt là Ngân hàng) đòi bị đơn chị Trần Thùy Ly thanh toán số tiền tạm tính đến ngày 20/9/2022 là 99.361.613 đồng (Trong đó, nợ gốc là 74.000.000 đồng, lãi trong hạn là 15.308.000 đồng, lãi quá hạn là 10.053.613 đồng) và các khoản lãi, chi phí phát sinh tính theo Hợp đồng tín dụng cho đến khi trả hết nợ vay, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Cùng ngày 31/01/2019 chị Trần Thúy L có ký kết hợp đồng tín dụng số: 20/2019/HĐTD-OCB-CN và Khế ước nhận nợ số: 20/2019/KUNN-OCB-CN với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phương D – Chi nhánh Cà Mau - Phòng giao dịch Sông Đốc, để vay số tiền 120.000.000 đồng.

- Thời hạn vay: 60 tháng.

- Mục đích vay: Tiêu dùng tín chấp cán bộ nhân viên.

- Lãi suất vay: Trong 03 tháng đầu là 15,8%/năm. Từ tháng thứ 04 trở đi áp dụng lãi suất cho vay điều chỉnh định kỳ 06 tháng/lần theo công thức tính lãi suất như sau: Lãi suất cho vay = Lãi suất cơ sở + Biên độ lãi suất. Trong đó, lãi suất cơ sở: Lãi suất cơ sở kỳ hạn 13 tháng theo biểu lãi suất của Ngân hàng Phương Đ ban hành từng thời kỳ. Biên độ lãi suất: Tối thiểu 8%/năm.

- Lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất vay trong hạn.

- Phương thức vay: Trả góp.

+ Trả nợ gốc: Bên vay trả nợ gốc cho Ngân hàng theo định kỳ hàng tháng vào ngày 15 của tháng. Số tiền trả đều mỗi kỳ là 2.000.000 đồng. Kỳ trả nợ gốc đầu tiên vào ngày 15/02/2019.

+ Trả nợ lãi: Bên vay trả nợ lãi cho Ngân hàng theo định kỳ 01 tháng/01 lần vào ngày 15 của tháng theo dư nợ thực tế. Kỳ trả lãi đầu tiên vào ngày 15/02/2019.

- Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, chị L đã thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền 75.548.035 đồng (Trong đó, nợ gốc là 46.000.000 đồng và nợ lãi là 29.548.035 đồng).

- Khoản tiền vay đã chuyển nợ quá hạn từ ngày 15/01/2021. Sau ngày 15/01/2021, chị L không thanh toán nợ cho Ngân hàng mặc dù Ngân hàng đã nhắc nhở và yêu cầu nhiều lần.

- Tính đến ngày xét xử sơ thẩm (Ngày 20/9/2022), chị L nợ Ngân hàng tổng số tiền 99.361.613 đồng (Trong đó, nợ gốc là 74.000.000 đồng, lãi trong hạn là 15.308.000 đồng, lãi quá hạn là 10.053.613 đồng). Do chị L đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa đôi bên nên cần buộc chị L thanh toán nợ cho Ngân hàng là phù hợp.

Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, buộc chị L thanh toán nợ cho Ngân hàng (Tính đến ngày xét xử sơ thẩm) 99.361.613 đồng (Trong đó, nợ gốc là 74.000.000 đồng, lãi trong hạn là 15.308.000 đồng, lãi quá hạn là 10.053.613 đồng) và khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc 74.000.000 đồng, theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng, kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.

Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được Hội đồng xét xử chấp nhận nên chị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 91, 95, 108 Luật Các tổ chức tín dụng; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phương D.

Buộc chị Trần Thúy L thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phương D số tiền 99.361.613 đồng (Chín mươi chín triệu ba trăm sáu mươi mốt nghìn sáu trăm mười ba đồng) (Trong đó, nợ gốc là 74.000.000 đồng, lãi trong hạn là 15.308.000 đồng, lãi quá hạn là 10.053.613 đồng) và khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.

2. Về án phí:

- Chị Trần Thúy L phải chịu án phí số tiền 4.968.000 đồng (Bốn triệu chín trăm sáu mươi tám nghìn đồng), chưa nộp.

- Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phương D không phải chịu án phí. Ngày 11/5/2022 Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phương D đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 2.312.000 đồng (Hai triệu ba trăm mười hai nghìn đồng) theo biên lai thu số 0004788 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, được nhận lại.

3. Về nghĩa vụ thi hành án:

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của tổ chức tín dụng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho tổ chức tín dụng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của tổ chức tín dụng cho vay.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phương D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn chị Trần Thúy L có quyền kháng cáo đối với bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ