- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chị Phan Thị Kim Loan với anh Đỗ Thiện Nhân"
- Tòa quyết gì? Nguyên đơn chị P T K L, có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (14-7-2020).
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 234/2020/HNGĐ-ST Ngày: 14-7-2020 V/v Ly hôn giữa chị L và anh N. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Đông Hòa
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Mai Thị Thu Hà
Ông Nguyễn Hoàng Tiến
-Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Sơn là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
-Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Tố Anh – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 50/2020/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2020 về “Ly hôn” theo Quyết định Đưa vụ án ra xét xử số 71/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 5 năm 2020 và Quyết định Hoãn phiên tòa số 73/2020/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Chị P T K L, sinh năm 1984 (có mặt)
Nơi cư trú: Tổ 20, ấp V T, xã V A, huyện C T, tỉnh An Giang.
2.Bị đơn: Anh Đ T N, sinh năm 1988 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Số nhà 417, Tổ 24, ấp V T, xã V A, huyện C T, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện xin ly hôn, tờ tự khai ngày 17-02-2020 và quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn chị P T K L trình bày:
+Về hôn nhân: Chị và anh Đ T N kết hôn vào năm 2009, hôn nhân do quen biết, có tổ chức đám cưới. Có đăng ký kết hôn tại UBND xã V A, huyện C T, tỉnh An Giang số 61 ngày 15-10-2009. Sau khi cưới vợ chồng sống bên chồng. Vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn do anh N gia trưởng, ghen tuông vô cớ, nhục mạ chị. Từ tháng 6/2019, vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Nay chị nhận thấy không còn tình cảm với anh N, mục đích hôn nhân không đạt được nên xin ly hôn với anh Đ T N. +Về con chung: Có 02 con chung tên Đ C Ng, sinh ngày 30-11-2009 và Đ M Đ, sinh ngày 19-6-2013; hiện chị đang nuôi con. Nếu ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con. +Về cấp dưỡng nuôi con: Chị không yêu cầu anh Đ T N cấp dưỡng nuôi con. +Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và 2 lần thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho anh Đ T N, nhưng anh N vẫn không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp chứng cứ, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Ngày 20-3-2020, Tòa án đến nhà anh N để ghi lời khai, nhưng anh N vắng mặt tại nhà. Do đó, Tòa án không nhận được ý kiến của anh N. Tại biên bản lấy lời khai ngày 17-3-2020, cháu Đ C Ng trình bày: Cháu tên Đ C Ng, cháu sinh ngày 30-11-2009. Cháu có đi học, cháu học lớp 5 trường Tiểu học B V A, xã V A, huyện C T, tỉnh An Giang. Cháu đang sống với mẹ. Cha cháu không về thăm mẹ con cháu. Cha mẹ ly hôn cháu muốn sống với mẹ. Tại biên bản lấy lời khai ngày 17-3-2020, cháu Đ M Đ trình bày: Cháu tên Đ M Đ, cháu sinh ngày 19-6-2013. Cháu có đi học, cháu học lớp 1 trường Tiểu học B V A, xã V A, huyện C T, tỉnh An Giang. Cháu đang sống với mẹ. Cha mẹ ly hôn cháu muốn sống với mẹ. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang phát biểu quan điểm như sau: 1/Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng được pháp luật quy định tại Bộ Luật Tố tụng Dân sự. 2/Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về con chung tiếp tục ổn định cho chị L nuôi con. Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, nợ chung chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét. Về án phí chị L phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với bị đơn anh Đ T N, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa, bị đơn anh N vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt theo thủ tục chung đối với bị đơn anh N.
[2] Về hôn nhân: Chị P T K L và anh Đ T N kết hôn năm 2009. Có đăng ký kết hôn tại UBND xã V A, huyện C T, tỉnh An Giang số 61 ngày 15-10-2009 theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nên hôn nhân này là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Chị L có yêu cầu ly hôn. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tổ chức hòa giải để hàn gắn lại tình cảm giữa chị L và anh N nhưng anh N không tham gia hòa giải. Tại biên bản lấy lời khai ngày 17-3-2020, cháu Đ C Ng là con của chị L và anh N trình bày anh N bỏ đi không về thăm chị L và con. Chị L và anh N sống ly thân đã một năm, cả hai bỏ mặt không tìm cách hàn gắn lại tình cảm. Điều này cho thấy mâu thuẫn giữa chị L và anh N là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Đối chiếu với quy định của pháp luật tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Hội đồng xét xử xét thấy nên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là chị L được ly hôn với anh N là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
[3] Về con chung: Chị P T K L và anh Đ T N có 02 con chung. Chị L đang nuôi con, anh N không có ý kiến gì về việc nuôi con.
Xét thấy: Cháu Ng và cháu Đ hiện đang sống với chị L, chị L nuôi hai cháu chu đáo, hai cháu được đi học, hai cháu đã trên 7 tuổi và có nguyện vọng sống với chị L. Đối chiếu với quy định của pháp luật tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Vì vậy, để không làm thay đổi cuộc sống cũng như sự phát triển tâm sinh lý của hai cháu; Hội đồng xét xử xét thấy nên để cho chị L được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung là phù hợp.
Chị P T K L và các thành viên trong gia đình chị L không được cản trở anh Đ T N trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định tại khoản 2 Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Anh Đ T N lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị L có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của anh N theo quy định tại khoản 3 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị P T K L không yêu cầu anh Đ T N cấp dưỡng nuôi con. Anh Đ T N không có ý kiến. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Chị P T K L trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh Đ T N không có ý kiến. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Đối chiếu với quy định của pháp luật tại khoản 4 Điều 147 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016, của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, nguyên đơn chị P T K L phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0006793 ngày 17-02-2020 của Chi Cục Thi hành án Dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang. [7] Về quyền kháng cáo: Đối chiếu với quy định của pháp luật tại Điều 271 và Điều 273 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự; Nguyên đơn chị P T K L, có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (14-7-2020). Bị đơn anh Đ T N vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Các Điều 227, 228, 266, 271 và 273 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự; Các Điều 9, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016, của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, Xử: [1] Về hôn nhân: Chị P T K L được ly hôn với anh Đ T N. Giấy chứng nhận kết hôn số 61 ngày 15-10-2009 của Ủy ban nhân dân xã V A, huyện C T, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý. [2] Về con chung: Chị P T K L được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung tên Đ C Ng, sinh ngày 30-11-2009 và Đ M Đ, sinh ngày 19-6-2013. Chị P T K L và các thành viên trong gia đình chị L không được cản trở anh Đ T N trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định tại khoản 2 Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Anh Đ T N lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị L có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của anh N theo quy định tại khoản 3 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. [3] Về án phí: Nguyên đơn chị P T K L phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0006793 ngày 17-02-2020 của Chi Cục Thi hành án Dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang. [4] Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn chị P T K L, có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (14-7-2020).
Bị đơn anh Đ T N vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: -Các đương sự (để thi hành); -Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành; -Chi Cục Thi hành án Dân sự huyện Châu Thành; -Phòng Kiểm tra Nghiệp vụ - Thi hành án, Tòa án nhân dân tỉnh An Giang; -Cơ quan thực hiện việc đăng ký kết hôn (UBND xã V A, huyện C T, tỉnh An Giang; -Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lý Đông Hoà |