vanban.org

Bản án 234/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Thu N đối với anh Nguyễn Thanh V.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Trần Phát Đ, sinh ngày 04/10/2006 cho chị N tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh V được quyền thăm nom con mà không ai được quyền cản trở. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của đương sự hoặc cá nhân, tổ chức thì Tòa án có thể quyết định việc thay đổ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Thu N đối với anh Nguyễn Thanh V.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 234/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 11/6/2018
V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Hậu.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đoàn Văn Hiển.

2. Bà Trương Thị Thu Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Châu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện châu Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Ông Phạm Tuấn Khanh - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 6 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 134/2018/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 3 năm 2018 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Thu N, sinh năm 1979; nơi cư trú: Ấp NH, xã NQA, huyện HD, tỉnh Bạc Liêu.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh V, sinh năm 1978; nơi cư trú: Tổ 23, ấp VL, thị trấn CD, huyện CP, tỉnh An Giang.

(Chị N có mặt, anh V vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn chị Trần Thị Thu N trình bày ý kiến:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Thanh V do quen biết, tìm hiểu nên tự nguyện tiến đến hôn nhân vào năm 2005 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã NQA, huyện HD, tỉnh Bạc Liêu. Sau khi kết hôn thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng đến năm 2011 thì phát sinh mâu thuẩn nguyên nhân do anh V không quan tâm đến đời sống và kinh tế gia đình, thường hay rượu chè, cờ bạc. Chị N đã nhiều lần khuyên anh V nhưng anh vẫn không thay đổi. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị N khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh V.

- Về con chung: Chị N và anh V có 01 con chung tên Nguyễn Trần Phát Đ, sinh ngày 04/10/2006. Khi ly hôn chị N yêu cầu được quyền nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không có.

- Về nợ chung: Không có.

* Bị đơn anh Nguyễn Thanh V vắng mặt tại phiên tòa.

* Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ giai đoạn thụ lý đến khi Hội đồng xét xử vào nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn đều thực hiện tuân theo pháp luật tố tụng. Tuy nhiên, đối với bị đơn vắng mặt phiên họp và tại phiên tòa không lý do là không tuân theo pháp luật tố tụng. Về quan điểm giải quyết vụ án đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú nhận thấy yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn có cơ sở để chấp nhận. Về con chung giao cháu Nguyễn Trần Phát Đ cho chị N tiếp tục nuôi dạy, về cấp dưỡng do chị N không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung không có nên không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp:

Căn cứ vào đơn khởi kiện cùng các tài liệu, chứng cứ kèm theo thì vụ án thuộc quan hệ về tranh chấp hôn nhân và gia đình, cụ thể chị Trần Thị Thu N yêu cầu xin ly hôn với anh Nguyễn Thanh V và xin nuôi dạy con chung. Về phần tài sản chung và nợ chung không có, do vậy Tòa án thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết vụ án:

Do đây là loại kiện về tranh chấp về hôn nhân và gia đình được quy định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện mà cụ thể là Tòa án nhân dân huyện Châu Phú do bị đơn có nơi cư trú tại địa bàn huyện Châu Phú theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về trình tự và thủ tục khởi kiện:

Xét đây là vụ án không bắt buộc phải thông qua hòa giải cơ sở, nên chị Trần Thị Thu N làm đơn khởi kiện trực tiếp ra Tòa án vẫn hợp lệ.

Về thủ tục tố tụng:

Qúa trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho các đương sự theo đúng quy định, tuy nhiên do anh V cố tình vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không lý do, nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh V là đúng theo quy định tại Điều 227 và Điều 233 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về hôn nhân: Giữa chị Trần Thị Thu N và anh Nguyễn Thanh V được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn đúng theo quy định, nên xem đây là hôn nhân hợp pháp, do vậy tại phiên tòa hôm nay, chị N xin ly hôn, anh V vắng mặt không lý do. Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân giữa chị N và anh V thực sự đã đỗ vỡ, mục đích hôn nhân không đạt được, thể hiện qua việc vợ chồng chị N và anh V không còn quan tâm lẫn nhau và sống ly thân từ năm 2012 cho đến nay, hơn nữa trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập anh V nhiều lần tham gia phiên hòa giải để vợ chồng hàn gắn, nhưng anh V vẫn cố tình vắng mặt, do vậy việc chị Nhi xin ly hôn với anh V là có cơ sở, Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận.

Về con chung: Có có 01 con chung tên Nguyễn Trần Phát Đ, sinh ngày 04/10/2006, chị N xin tiếp tục nuôi con chung. Hội đồng xét xử xét thấy hiện nay cháu Đ đang sống ổn định với chị N và theo ý kiến trình bày của cháu Đ cũng có yêu cầu được sống chung với mẹ, do vậy Hội đồng xét xử xét giao cháu Đ cho chị N tiếp tục nuôi dạy là hợp lý.

Về cấp dưỡng: Do chị N không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị N khai không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí: Do yêu cầu xin ly hôn của chị N được chấp nhận, nên chị N phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân sơ thẩm được quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; số tiền án phí chị N phải chịu nói trên được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị N đã nộp 300.000đ theo biên lai thu số 0002563 ngày 23/3/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú, chị N đã nộp đủ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 233, Điều 335 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Thu N đối với anh Nguyễn Thanh V.

- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Trần Phát Đ, sinh ngày 04/10/2006 cho chị N tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh V được quyền thăm nom con mà không ai được quyền cản trở. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của đương sự hoặc cá nhân, tổ chức thì Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

- Về cấp dưỡng: Chị N không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị N khai không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

- Về án phí: Chị N phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị N đã nộp 300.000đ theo biên lai thu số 0002563 ngày 23/3/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú, chị N đã nộp đủ.

- Về quyền kháng cáo: Chị N có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh V có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày tống đạt bản án hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ