- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh B - phạm tội giết người (điều 93 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Bác yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh B.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 234/2017/HS-PT Ngày 25 tháng 9 năm 2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Ngọc Thông;
Các Thẩm phán:
Ông Phạm Việt Cường;
Ông Bùi Huy Tiến.
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Hồng Phượng - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Lê Ra - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 25 tháng 9 năm 2017 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 242/2017/TLPT-HS ngày 04/8/2017 đối với bị cáo Nguyễn Thanh B phạm tội “Giết người”, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2017/HSST ngày 28/6/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Thanh B (tên gọi khác: N) sinh năm 1998 tại Khánh Hòa; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: thôn Đ, xã N, thị xã N, Khánh Hoà; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 8/12; con ông Nguyễn Thanh H (chết) và bà Lê Thị G (sinh năm 1964); tiền sự, tiền án: không. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 24/3/2017. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo:
Ông Huỳnh Văn T, Luật sư –thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Khánh Hòa bào chữa cho bị cáo theo yêu cầu của Toà án. Có mặt.
- Người bị hại: Anh Phạm Tân T (đã chết).
- Người ại di n h p pháp của người bị hại hạm T n T:
Ông Phạm Văn Tr, sinh năm 1968.
Bà Nguyễn Thị Nh, sinh năm 1971.
Cùng trú tại: thôn X, xã N, thị xã N, Khánh Hoà. Đều có mặt.
- Người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị G, sinh năm 1964
Trú tại: Thôn Đ, xã N, thị xã N, Khánh Hòa. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 23/3/2017, Nguyễn Thanh B (tên gọi khác là N) cùng với Nguyễn Bảo Th, Trương Công T1, Phạm Quốc Th, Lê Văn L, Nguyễn Tấn Ph, Đặng Quốc C, Đặng Ngọc S, Nguyễn Duy T2 tổ chức ăn nhậu tại nhà của Tâm. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày cả nhóm đến khu vực đình làng Đ thuộc thôn Đ nhậu tiếp. Lúc sau, có thêm Đặng Thanh T2, Phạm Tân T, Huỳnh Tấn Huy B đến nhậu. Trong lúc nhậu, T lấy 200.000đ đưa cho B nói B đi mua thêm bia về uống nhưng B không đi mà đưa tiền cho Lên đi mua nên giữa T và B xảy ra mâu thuẫn kình cãi nhau. T chửi B nên B bực tức nảy sinh ý định đánh T. Sau đó, B đứng dậy đi đến khu vực bếp của đình Đ và lấy một cây gỗ dài khoảng 60cm, dày khoảng 03cm, bị cháy đen một đầu. B cầm cây gỗ quay lại chỗ nhậu, đứng phía sau lưng T phía bên trái của T, rồi dùng hai tay cầm cây gỗ đánh một cái vào đầu T, T ôm đầu ngã xuống. B định tiếp tục đánh tiếp thì mọi người trong nhóm xông vào can ngăn nên B vứt lại cây gỗ và đi về nhà. Còn T được T1, Tâm chở đi cấp cứu nhưng tử vong vào lúc 12 giờ 45 phút ngày 24 tháng 3 năm 2017.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 116/TT-TTPY ngày 31 tháng 3 năm 2017 của Trung tâm pháp y tỉnh Khánh Hoà kết luận: Nguyên nhân tử vong của Phạm Tân T như sau: Chấn thương sọ não hoàn toàn phù hợp tác nhân là vật tày; chiều hướng từ trái sang phải, từ ngoài vào trong, từ sau ra trước.
Tại B n án h nh s s thẩm s 20/2017/HSST ngày 28/6/2017, Tòa án nh n d n t nh Khánh Hòa quyết ịnh:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh B (Ni) phạm tội “Giết người”
Áp dụng: Điểm n khoản 1 Điều 93, điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh B 19 (Mười chín) năm tù về tội “Giết người”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị tạm giam ngày 24/3/2017.
Ngoài ra, Bản án hình sự sơ thẩm còn quyết định về phần trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và thông báo về quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 10/7/2017 bị cáo Nguyễn Thanh B có Đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và giảm mức bồi thường về tổn thất tinh thần.
Tại phiên toà phúc thẩm hôm nay:
Bị cáo Nguyễn Thanh B vẫn giữ nguyên cầu kháng cáo, đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt và giảm mức bồi thường về tổn thất tinh thần.
Đại diện người bị hại đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
Ý kiến của Luật sư bào chữa cho bị cáo: Về nguyên nhân bị cáo phạm tội là do bực tức vì bị anh T chửi nên đã hành động thiếu suy nghĩ. Sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú, khai báo thành khẩn, biết ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường một phần thiệt hại cho gia đình người bị hại. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt và giảm một phần bồi thường cho bị cáo.
Ý kiến của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng thực hành quyền công tố tại phiên toà phát biểu quan điểm đối với việc giải quyết vụ án:
Về thủ tục tố tụng: Từ giai đoạn thụ lý vụ án đến khi xét xử vụ án, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng và đầy đủ các qui định pháp luật về tố tụng hình sự.
Về nội dung:
- Về hình phạt: Với những hành vi và hậu quả do bị cáo gây ra, Toà án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo 19 năm tù là phù hợp, bị cáo kháng cáo nhưng không có tình tiết giảm nhẹ nào mới nên không có cơ sở để chấp nhận.
- Về bồi thường tổn thất tinh thần: Toà án cấp sơ thẩm đã buộc bị cáo bồi thường 100 tháng lương cơ sở, tương ứng với số tiền là 121.000.000 đồng là phù hợp, cho nên không có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo này của bị cáo.
Đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án và các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về trách nhiệm hình sự:
Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của bị cáo ở giai đoạn điều tra, lời khai của những người làm chứng, các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Hội đồng xét xử xét thấy, giữa bị cáo và người bị hại không có mâu thuẫn gì lớn, chỉ vì một nguyên cớ nhỏ nhặt, bực tức vì lời nói mà dẫn đến hành động thiếu suy nghĩ, đã dùng cây gỗ (Dài khoản 60cm, dày khoảng 03cm) đập mạnh vào đầu người bị hại, gây chấn thương sọ não, dẫn đến tử vong. Thể hiện đây là hành vi cố ý tước đoạt tính mạng của người khác, có tính chất côn đồ, được xem là tình tiết định khung tăng nặng qui định tại điểm n khoản 1 Điều 93 của Bộ luật Hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo là dặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm đến tính mạng của người khác một cách trái pháp luật, tước đi quyền được sống của một con người, gây ra mất mác đau thương không có gì bù đắp được cho gia đình người bị hại, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, trị an ở địa phương, gây tâm lý bất bình trong quần chúng nhân dân.
Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét, vận dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo như: Bị cáo đã khai báo thành khẩn, biết ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, khi phạm tội mới hơn 18 tuổi nên hiểu biết về pháp luật còn hạn chế; sau khi phạm tội đã ra đầu thú; bị cáo đã tác động gia đình bồi thường một phần cho gia đình người bị hại (Đã bồi thường 5.000.000đồng, sau đó bồi thường tiếp nhưng gia đình người bị hại không nhận) nên đã xử phạt bị cáo 19 năm tù là có căn cứ, đúng pháp luật. Theo qui định tại khoản 1 Điều 93 của Bộ luật Hình sự có khung hình phạt từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình thì mức hình phạt của bị cáo là không nặng. Bị cáo kháng cáo nhưng không có tình tiết giảm nhẹ nào mới nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.
. Về trách nhiệm dân sự:
Hội đồng xét xử xét thấy, Bị cáo đã gây ra cái chết cho người bị hại là anh Phạm Tân T chỉ vì nguyên nhân mâu thuẫn nhỏ, đã gây ra tổn thất về tinh thần không có gì bù đắp được cho gia đình người bị hại. Toà án cấp sơ thẩm dã tuyên buộc bị cáo phải bồi thường số tiền là 121.000.000đồng tương ứng với 100 tháng lương cơ sở là phù hợp.
. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy kháng cáo của bị cáo không có căn cứ để chấp nhận, bác yêu cầu kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
. Về án phí: Căn cứ Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Thanh B phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn ồng) và án phí dân sự sơ thẩm và 7.235.000đồng (Bảy triệu hai trăm ba mươi lăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm (28.700.000đ + 121.000.000đ – 5.000.000đ = 144.700.000đ X 5% = 7.235.000đ).
Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên buộc bị cáo Nguyễn Thanh B phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
Tổng cộng ba khoản là 7.635.000đồng (Bảy triệu sáu trăm ba mươi lăm ngàn đồng).
. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 248 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Áp dụng Điểm n khoản 1 Điều 93; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 42 của Bộ luật Hình sự; Điều 591 của Bộ luật Dân sự; Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Bác yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh B.
Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2017/HSST ngày 28/6/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.
1. Về hình phạt:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh B (N) phạm tội “Giết người”
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh B 19 (Mười chín) năm tù về tội “Giết người”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo tạm giam ngày 24/3/2017.
2. Về trách nhiệm dân sự:
Buộc bị cáo Nguyễn Thanh B phải bồi thường cho người đại diện hợp pháp của người bị hại là ông Phạm Văn Tr và bà Nguyễn Thị Nh tổng số tiền là 149.700.000đồng, bị cáo đã bồi thường 5.000.000đồng, còn phải tiếp tục bồi thường 144.700.000 đồng (Một trăm bốn bốn triệu bảy trăm ngàn đồng), gồm khoản tiền chi phí mai táng là 23.700.000 đồng, và tổn thất tinh thần là 121.000.000 đồng.
3. Về án phí:
3.1. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Thanh B phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn ồng) án phí hình sự sơ thẩm và 7.235.000đồng (Bảy triệu hai trăm ba mươi lăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
3.2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Thanh B phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
Tổng cộng ba khoản là 7.635.000đồng (Bảy triệu sáu trăm ba mươi lăm ngàn đồng).
4. Các quyết định khác không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - VKSNDCC tại Đà Nẵng; - TAND tỉnh Khánh Hòa; - Công an tỉnh Khánh Hòa; - Sở Tư pháp tỉnh Khánh Hòa; - Cục THADS tỉnh Khánh Hòa; - Trại giam Công an tỉnh Khánh Hòa; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Võ Ngọc Thông |