vanban.org

Bản án 233A/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Từ Thị Kiều L đối với ông Nguyễn Văn K. Bà L được ly hôn với ông K. Ghi nhận việc bà L không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.

Về con chung: bà L và ông K có một người con chung tên Nguyễn Thị Lan A sinh ngày 23/12/2008. Khi ly hôn, bà L được tiếp tục trực tiếp nuôi người con chung tên Nguyễn Thị Lan A, ghi nhận bà L không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi cháu Lan A. Người không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom, chăm sóc,… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Từ Thị Kiều L đối với ông Nguyễn Văn K. Bà L được ly hôn với ông K. Ghi nhận việc bà L không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ LÁCH
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 233A/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 26/6/2025
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nga.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hà Công Tâm 2. Bà Bùi Thị Thúy Bắc

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Cường – Thư ký Toà án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thanh Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 6 năm 2025, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 137/2025/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 4 năm 2025 về việc: “Ly hôn, tranh ch p nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 168/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 29/5/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Từ Thị Kiều L, sinh năm: 1990; địa chỉ: số nhà B ấp T, xã S, huyện C, tỉnh Bến Tre. Bà L có đơn xin vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm: 1987; địa chỉ: số nhà B ấp T, xã S, huyện C, tỉnh Bến Tre (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 14/4/2025, văn bản trình bày ý kiến ngày 07/5/2025, nguyên đơn bà Từ Thị Kiều L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Vào ngày 04 tháng 11 năm 2008, bà L và ông K có tiến đến hôn nhân. Hôn nhân do hai bên tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã S, huyện C, tỉnh Bến Tre. Thời gian chung sống hạnh phúc với nhau khoảng trên 10 năm. Đến tháng 01 năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông bà không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống, đời sống chung không thể kéo dài, hôn nhân không còn hạnh phúc, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Nay bà L yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách giải quyết cho bà L được ly hôn với ông K. Bà L không yêu cầu ông K cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.

Về con chung: bà L và ông K có một người con chung tên Nguyễn Thị Lan A sinh ngày 23/12/2008, hiện người con đang chung sống với bà L. Sau khi ly hôn, bà L yêu cầu được quyền nuôi con chung, bà L không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: bà L trình bày không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: bà L trình bày không có.

Ngày 23/6/2025, bà L có đơn xin vắng mặt.

Phía bị đơn ông Nguyễn Văn K đã được tống đạt thông báo thụ lý vụ án, các giấy mời của Toà án và đã được triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa nhưng ông K vắng mặt, cũng không có văn bản trình bày ý kiến nên không có phần trình bày của ông K.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Lách phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật và chấp hành pháp luật của những người tiến hành tố tụng thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn thực hiện chưa đúng quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82 Luật hôn nhân và gia đình;

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà L đối với ông K.

Về con chung: giao con chung tên Nguyễn Thị Lan A sinh ngày 23/12/2008 cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng, bà L không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con chung tên Nguyễn Thị Lan A.

Về tài sản chung: Bà L trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: bà L trình bày không có nên không yêu cầu giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Bà Từ Thị Kiều L có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà L.

Bị đơn ông Nguyễn Văn K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên căn cứ vào khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông K.

Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy bà L và ông K tự nguyện kết hôn và có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện C, tỉnh Bến Tre vào năm 2008. Hôn nhân của ông bà là hợp pháp nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Bà L cho rằng sau khi kết hôn, ông bà sống hạnh phúc khoảng hơn 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm, vợ chồng không có tiếng nói chung. Bà L xác định đã không còn tình cảm với ông K nên xin được ly hôn với ông K. Tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình quy định: “... Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện công việc trong gia đình...”. Đối chiếu với quy định trên thì giữa bà L và ông K đã có xảy ra mâu thuẫn, gia đình không còn hạnh phúc, tình nghĩa vợ chồng không còn. Đối với ông K, từ khi thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án, các Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai tài liệu, chứng cứ và hòa giải cho ông K nhưng ông K vẫn vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Qua đó cũng thể hiện việc ông K không mong muốn được hòa giải đoàn tụ, hàn gắn hạnh phúc gia đình. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà L và ông K đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà L là phù hợp với qui định tại Điều 56 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Ghi nhận việc bà L không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.

Về con chung: bà L và ông K có một người con chung tên Nguyễn Thị Lan A sinh ngày 23/12/2008, hiện người con đang chung sống với bà L. Sau khi ly hôn, bà L yêu cầu được quyền nuôi con chung, bà L không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con chung.

Hội đồng xét xử xét thấy, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, ông K vắng mặt nên không có ý kiến về con chung tên Nguyễn Thị Lan A. Trong khi bà L hiện đang trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Lan A. Hơn nữa, tại biên bản hỏi ý kiến ngày 07/5/2025 thì cháu Lan A có nguyện vọng sống với bà L. Do đó, để đảm bảo cuộc sống về vật chất và tinh thần của cháu Lan A cần giao cháu Lan A cho bà L tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp. Ghi nhận bà L không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi cháu Lan A.

Về tài sản chung: bà L trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: bà L trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: bà L phải chịu theo quy định của pháp luật.

Đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Từ Thị Kiều L đối với ông Nguyễn Văn K. Bà L được ly hôn với ông K. Ghi nhận việc bà L không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.

2. Về con chung: bà L và ông K có một người con chung tên Nguyễn Thị Lan A sinh ngày 23/12/2008. Khi ly hôn, bà L được tiếp tục trực tiếp nuôi người con chung tên Nguyễn Thị Lan A, ghi nhận bà L không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi cháu Lan A.

Người không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án quyết định hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.

Vì lợi ích của con chung sau này, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung: bà L trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về nợ chung: bà L trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

5. Về án phí dân sự sơ thẩm: bà L phải chịu số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà L đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0009567 ngày 18/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách, Bến Tre. Bà L đã nộp đủ án phí.

6. Bà Từ Thị Kiều L và ông Nguyễn Văn K vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ