vanban.org

Bản án 2335/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử

dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 2335/2023/DS-ST
Ngày: 11/7/2023
V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Minh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Hương

2. Ông Chu Mạnh Tường

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân thành

phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên

toà: Ông Trần Đức Sơn - Kiểm sát Viên.

Ngày 11 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức,

Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số

1252/2022/TLST-DS ngày 16/12/2022 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo

Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2472/2023/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 5 năm

2023 và Quyết định hoãn phiên toà số 3304/2023/QĐST-DS ngày 15/6/2023 giữa

các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần X

Trụ sở: Lầu A, số B đường C, Phường D, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Anh Q (Giấy ủy quyền số

15/2023/GUQ-PGD Lý Thái Tổ ngày 01/02/2023 – Có đơn xin vắng mặt)

- Bị đơn: Ông Mai Anh P, sinh năm 1997 (Vắng mặt)

Địa chỉ cư trú: Số F đường G, khu phố H, phường K, thành phố R, Thành

phố Hồ Chí Minh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình tham gia tố tụng tại Toà,

nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần X (sau đây gọi tắt là: Ngân hàng) có

người đại diện theo uỷ quyền trình bày:

Ngân hàng cấp thẻ tín dụng cho ông Mai Anh P căn cứ theo Giấy đề nghị

cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 13869401 ngày 29/11/2019, Điều khoản và

điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng. Chi tiết thẻ như sau: Số thẻ tín dụng: 436438-8148, hạn mức thẻ: 50,000,000 đồng, lãi suất trong hạn 2,4%/tháng, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.

Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng, ông Pđã không thanh toán đầy đủ cho

Ngân hàng theo thông báo giao dịch hàng tháng. Do đó, ngày 05/02/2021, nguyên đơn đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 19/5/2023, ông Pcòn nợ nguyên đơn số tiền 112,804,091 đồng, trong đó: Nợ gốc 56,413,323 đồng, nợ lãi quá hạn 56,390,768 đồng.

Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông P phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền

nợ trên và tiền lãi phát sinh từ ngày 20/5/2023 trên số dư nợ gốc cho đến khi thanh toán hết nợ theo mức lãi suất quá hạn được quy định tại hợp đồng.

* Bị đơn ông Mai Anh P đã được Toà án tống đạt hợp lệ để tham gia tố tụng

tại Toà án nhưng đều vắng mặt nên Toà án không thể lấy lời khai của ông Pđược.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí

Minh phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Tòa án đã tiến hành tố tụng từ khi thụ lý cho đến mở phiên tòa

đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và đương sự chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ và hợp pháp,

đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông P phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền nợ gốc 56,413,323 đồng, nợ lãi tạm tính đến ngày 19/5/2023 là 56,390,768 đồng và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 20/5/2023 cho đến khi thanh toán hết nợ theo mức lãi suất quy định tại hợp đồng mà các bên đã ký kết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được công khai tại

phiên họp về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, được xem xét tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

Quan hệ tranh chấp trong vụ án là tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Bị đơn

ông Mai Anh P có nơi cư trú cuối cùng tại địa chỉ: Số F đường G, Khu phố H, phường K, thành phố R , Thành phố Hồ Chí Minh nên tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 40 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Ông Mai Anh P đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia tố

tụng tại phiên toà nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông Phúc.

Ông Phạm Anh Q, người đại diện theo uỷ quyền của Ngân hàng có đơn đề

nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ theo Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

- Về nội dung:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do Ngân hàng nộp, có cơ sở để khẳng định

giữa nguyên đơn và ông Mai Anh P đã phát sinh quan hệ vay tài sản.

Thực hiện hợp đồng, ông Mai Anh P đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán cho

Ngân hàng. Ngày 05/02/2021, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và

chuyển toàn bộ số dư nợ sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 19/5/2023, ông Pcòn nợ

số tiền 112,804,091 đồng, trong đó: Nợ gốc 56,413,323 đồng, nợ lãi quá hạn

56,390,768 đồng.

Tại phiên toà, ngoài các chứng cứ do Ngân hàng nộp cho Toà án, ông Pkhông

nộp bất cứ chứng cứ nào cũng như không có bất cứ sự phản đối nào đối với yêu

cầu của nguyên đơn. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào tài liệu, chứng cứ do

nguyên đơn nộp để chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc ông Mai Anh Pphải

có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn số tiền nợ trên.

Ông P phải có nghĩa vụ thanh toán khoản tiền lãi tiếp tục phát sinh trên số

dư nợ gốc kể từ ngày 20/5/2023 cho đến khi thanh toán hết khoản nợ theo mức lãi

suất quá hạn được quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và

bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng mà ông Pđã ký

kết với Ngân hàng.

-Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Mai Anh P phải chịu án phí sơ thẩm trên số tiền phải có nghĩa vụ thanh

toán cho Ngân hàng.

Ngân hàng không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1

Điều 40, Điều 186, Khoản 2 Điều 227, Khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271,

Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 3, Điều 4, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

- Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015;

- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm

2014;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban

thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử

dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần

X.

Buộc ông Mai Anh P phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương

mại cổ phần X số tiền nợ tạm tính đến ngày 19/5/2023 là 112,804,091 đồng, cụ

thể: Nợ gốc 56,413,323 đồng, nợ lãi quá hạn 56,390,768 đồng.

Ông Mai Anh P phải có nghĩa vụ thanh toán khoản tiền lãi tiếp tục phát sinh

trên số dư nợ gốc kể từ ngày 20/5/2023 cho đến khi thanh toán hết khoản nợ theo mức lãi suất quá hạn được quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng được giao kết giữa ông Mai Anh P và Ngân hàng Thương mại cổ phần X.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Mai Anh P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 5,640,205 (Năm triệu sáu

trăm bốn mươi nghìn hai trăm lẻ năm) đồng.

Ngân hàng Thương mại cổ phần X được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã

nộp 1,544,032 (Một triệu năm trăm bốn mươi bốn nghìn không trăm ba mươi hai) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0024215 ngày 28/10/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Về quyền kháng cáo: Ngân hàng Thương mại cổ phần X, ông Mai Anh

Pđược quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hánh án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Cỡ chữ