vanban.org

Bản án 233/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Neng Bích S được ly hôn với ông Danh D.

Về con chung, về tài sản chung, nợ chung: HĐXX không xem xét. Về án phí: Bà Neng Bích S phải nộp án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000đ nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) bà đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0011969, ngày 17/12/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Neng Bích Sương - Danh D"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Neng Bích S được ly hôn với ông Danh D.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 – AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 233/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 24-6-2026
“V/v Tranh chấp về Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Nhập.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Tôn.

Bà Vũ Thị Đào.

- Thư ký phiên tòa: Ông Tô Quốc Việt, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 – An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 tham gia phiên tòa: Ông Danh Vũ Hải – Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 6 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 – An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 522/2025/TLST-HNGĐ, ngày 17/12/2025 về việc “Tranh chấp về ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 249/2026/QĐXXST-HNGĐ, ngày 20 tháng 5 năm 2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Neng Bích S – sinh năm 1977 (có mặt);

Địa chỉ: Ấp X, xã Đ, tỉnh An Giang.

- Bị đơn: Ông Danh D – sinh năm 1970 (vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp X, xã Đ, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai đề ngày 09/12/2025 và tại phiên tòa, Nguyên đơn bà Neng Bích S trình bày:

Vào năm 1997, bà kết hôn cùng với ông Danh D, hôn nhân tự nguyện, gia đình hai bên có tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương và sau đó vợ chồng có đăng ký kết hôn trễ hạn tại UBND xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang (cũ) theo quy định của pháp luật 22/11/2004.

Sau khi cưới, vợ chồng bà chung sống hạnh phúc, đầm ấm với nhau được khoảng 16 năm thời gian sau đó thường xảy ra mâu thuẫn. Theo bà S nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu của vợ chồng bà là do bất đồng về quan điểm sống, thường xuyên cải vã, sau đó ông D đi làm thuê trên Bình Dương, thời gian đầu có về thăm bà, có chu cấp tiền để bà nuôi con, khoảng hai năm gần đây thì ông D có về nhưng vợ chồng không có trao đổi, ông D cũng không gởi tiền về lo cho gia đình như trước và không chịu về chung sống cùng nhau. Bà đã nhiều lần trao đổi, hòa giải mong được hàn gắn nhưng giữa ông bà vẫn không có tiếng nói chung. Nay xét thấy sau thời gian dài ly thân, để cả hai bình ổn cũng như suy nghĩ thêm thì nay bà xét thấy giữa vợ chồng có quá nhiều mâu thuẫn, không thể hàn gắn nên làm đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông D.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng bà có 02 con chung là Thị Phương L – sinh ngày 07/8/1998 và Danh Hùng D1 – sinh ngày 09/10/2002, hai cháu hiện tại đều đã trưởng thành.

Tài sản chung: Không có.

Nợ chung: Không có.

Tại phiên tòa: Về quan hệ hôn nhân, bà Neng Bích S yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Danh D; Về con chung: Do hai con chung đã trưởng thành nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết về vấn đề con chung; Về tài sản chung, nợ chung: Bà S xác định vợ chồng không có tài sản chung và cam kết vợ chồng không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Đối với bị đơn ông Danh D không có mặt tại phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật cho ông D nhưng ông không có mặt cũng không cung cấp bản tự khai cho Tòa án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến hay bất cứ yêu cầu nào của ông.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, người tham gia tố tụng; việc thu thập tài liệu, chứng cứ, cấp tống đạt văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát đúng quy định. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký và Nguyên đơn chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn đã được thông báo, tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định nhưng đều vắng mặt là không tuân thủ quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 51, 53, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: Chấp nhận cho bà Neng Bích S được ly hôn với ông Danh D; Về con chung: Do hai con chung đã trưởng thành, bà S không yêu cầu giải quyết về vấn đề con chung nên không xem xét; Về tài sản chung, nợ chung: không có và bà S không yêu cầu nên miễn xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình chung sống, do phát sinh mâu thuẫn không giải quyết được với nhau nên bà Neng Bích S khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Danh D được Tòa án thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền được quy định tại Điều 28 và Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (Bộ luật BLTTDS 2015).

Ông Danh D với tư cách là bị đơn trong vụ án, quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn như: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai, chứng cứ và hòa giải; Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai, chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa. Tuy nhiên, ông D không nộp văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện, không nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án, không đến Tòa án để tham gia phiên họp, hòa giải là không thực hiện đúng về quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn giao nộp và do Tòa án thu thập để giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 96 của Bộ luật tố tụng dân sự. Mặc khác, ông Danh D đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan; căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 BLTTDS, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông D.

Về hôn nhân: Bà Neng Bích S và ông Danh D xác lập quan hệ hôn nhân với nhau vào năm 1997, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang (cũ) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 75/UB quyển số I/04 ngày 22/11/2004, theo quy định tại Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 hôn nhân của bà S và ông D là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.

Xét yêu cầu của bà Neng Bích S xin được ly hôn với ông Danh D vì lý do vợ chồng ông có quá nhiều bất đồng, thêm vào đó ông D không muốn hàn gắn, không chịu về chung sống cùng bà, ông bà đã tự ly thân khoảng 03 năm nay. Trong thời gian ly thân bà và ông D không có tiếng nói chung, không gặp nhau, cũng không liên lạc hay trao đổi gì với nhau nên không hòa giải được những mâu thuẫn. Đối với ông Danh D, Tòa án đã nhiều lần tống đạt và thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng trong đó có 02 lần tống đạt Thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để điều kiện cho vợ chồng ông bà hòa giải, đoàn tụ với nhau nhưng ông D đều không có mặt nên Tòa án không tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được.

Bà S khai rõ trong suốt thời gian ly thân, vợ chồng bà không hòa giải được với nhau, bản thân bà thì không còn tình cảm gì với ông D và tỏ rõ thái độ cương quyết ly hôn với ông D. Hội đồng xét xử thấy rằng, bà S và ông D đã không còn yêu thương, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau để xây dựng mái ấm gia đình bền vững, hạnh phúc; thời gian ông bà sống ly thân là để cả hai có thời gian cùng nhau nhìn lại những gì đã trãi qua nhưng vẫn không hàn gắn được tình cảm vợ chồng nên tình trạng hôn nhân giữa ông bà đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà S là phù hợp.

Về con chung: Bà Neng Bích S xác định vợ chồng có 02 con chung tên Thị Phương L – sinh ngày 07/8/1998 và Danh Hùng D1 – sinh ngày 09/10/2002, hai cháu hiện tại đều đã trưởng thành.

Do con chung đã trưởng thành nên bà S không yêu cầu Tòa án giải quyết, về vấn đề con chung. Do đó, HĐXX không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Neng Bích S xác định vợ chồng không có tài sản chung và cam kết vợ chồng không có nợ chung, bà không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Do đó, HĐXX không xem xét.

Do ông Danh D không có ý kiến tại Tòa về vấn đề tài sản chung, nợ chung; nếu sau này có phát sinh tranh chấp về các vấn đề trên thì ông D có quyền khởi kiện thành vụ kiện dân sự khác.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Tòa án nên chấp nhận.

Về án phí: Án phí ly hôn bà Neng Bích S phải nộp do có yêu cầu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 51, 53, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Neng Bích S được ly hôn với ông Danh D.

2. Về con chung, về tài sản chung, nợ chung: HĐXX không xem xét.

3. Về án phí: Bà Neng Bích S phải nộp án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000đ nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) bà đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0011969, ngày 17/12/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang. Như vậy, bà S đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm.

5. Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 24/6/2026.

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 9 Luật thi hành án dân sự và các Điều 7, 7a, 7b Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ