vanban.org

Bản án 233/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 29/06/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn C, Lê Duy K phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn C 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/3/2024 Bị cáo Lê Duy K 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn C - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn C, Lê Duy K phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
T PHỐ THANH HÓA
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 233/2024/HS-ST
Ngày: 29/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN T PHỐ THANH HÓA - THANH HÓA

- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Q

Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hoàng Thị H

2. Ông Nguyễn Ngọc D.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị H H - Thư ký Tòa án nhân dân T phố Thanh Hóa.

- Đ1 diện Viện kiểm sát nhân dân T phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thu L - Kiểm sát Viên

Ngày 29/5/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân T phố Thanh Hóa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 246/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 267/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Hoàng Văn C – Sinh năm 1992, tại Thanh Hóa; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Phố 2, phường Q , T phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn Hóa: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Hoàng Văn D (đã chết) và bà Nguyễn Thị C; Vợ, con: chưa; Tiền án: Năm 2015 bị Tòa án nhân dân T phố Thanh Hóa xử 09 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản” (đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/3/2016); Năm 2016 bị Tòa án nhân dân T phố Sầm Sơn xử 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 03/9/2018); Năm 2019 bị Tòa án nhân dân T phố Thanh Hóa xử 42 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt ngày 05/5/2022; Tiền sự: Năm 2022 bị Công an phường Q , T phố Thanh Hóa xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; Nhân thân: Năm 2010 bị Công an T phố Thanh Hóa xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý gây thương tích”; Năm 2011 bị Tòa án nhân dân T phố Thanh Hóa xử 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/3/2024 đến ngày 14/3/2024 chuyển tạm giam. Hiện nay bị can đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an T phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt tại phiên tòa.

2. Lê Duy K - Sinh năm 1986, tại Thanh Hóa; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Phố T Long, phường Q T, T phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 02/12 ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không ; con ông Lê Duy N và bà Phạm Thị H (đã chết), Vợ: Nguyễn Thị L và có 02 con, con lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2016; Tiền án: Năm 2020 bị Tòa án nhân dân T phố Thanh Hóa xử 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong ngày 20/10/2021; Tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 13/12/2023 bị Công an phường Q , T phố Thanh Hóa xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý gây thương tích n không bị truy cứu trách nhiệm hình sự”.

Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bằng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Anh Nguyễn Hoàng Đ - sinh năm 1994 (vắng mặt)

Trú tại: Phố 4, phường Q , T phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa;

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: - Anh Nguyễn Đình H – sinh năm 1985 (vắng mặt, anh H có đơn xin xét xử vắng mặt)

Trú tại: Phố T Long, phường Q T, T phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

- Anh Hoàng Văn Đ1 – sinh năm 1988 (vắng mặt) Trú tại: Phố 2, phường Q , T phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền tiêu xài nên khoảng 23h ngày 26/9/2023 Hoàng Văn C đi xe môtô Wave nhãn hiệu ESPERO màu trắng bạc, không lắp biển kiểm soát mang theo cưa sắt đã chuẩn bị trước đó đến rủ Lê Duy K đi trộm cắp tài sản. C chở K đến tại phố 4, phường Q T, T phố Thanh Hóa, khi đến nơi, K đứng ngoài cảnh giới còn C mang theo cưa sắt vào của hàng sửa chữa xe máy T Đ của anh Nguyễn Hoàng Đ cắt khóa cửa vào trong lục soát và lấy 01 xe môtô Super Cup 82 màu xanh trắng, biển kiểm soát 36F1-6214; 07 chai dầu nhớt nhãn hiệu Noil Qtex; 01 máy bắn ốc Makita màu xanh; 01 máy bắn ốc nhãn hiệu Cmart Nationnal màu xám đen; 02 bình ắc quy nhãn hiệu GS chưa qua sử dụng sau đó bỏ vào bao tải để lên xe cup, do xe Cúp không nổ máy nên C gọi K vào cùng đẩy ra ngoài. C ngồi lên xe đẩy bộ ra phía sau quán còn K đi xe của C, sau đó K ngồi lên xe Cúp còn C điều khiển xe Wave và dùng chân đẩy xe Cúp. C và K mang tài sản đưa về nhà C cất giấu.

Ngày 28/9/2023, C chuyển xe môtô Super Cup 82 đến gửi nhà chị Hà Thị T (là mợ của bạn gái) ở xã Pù Nhi, huyện Mường Lát làm phương tiện đi lại.

Ngày 30/9/2023, C mang bao tải chứa bình ắc quy, dầu nhớt, máy bắn ốc đến cửa hàng sửa chữa xe máy H Dung của anh Nguyễn Đình H sinh năm 1985 ở phố T Long, phường Q T, T phố Thanh Hóa bán với giá 700.000 đồng, C đã tiêu sài cá nhân hết.

Tại Kết luận định giá tài sản số 136/KL-HĐĐGTS ngày 05/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân T phố Thanh Hóa kết luận: 01 xe môtô Super Cup 82 màu xanh trắng, biển kiểm soát 36F1-6214 trị giá 6.500.000đồng; 07 chai dầu nhớt nhãn hiệu Noil Qtex chưa qua sử dụng trị giá 1.029.000đồng; 10 (mười) xăm xe máy và 03 lốp xe máy nhãn hiệu Casumina chưa qua sử dụng trị giá 860.000đồng; 01 máy bắn ốc Makita màu xanh trị giá 1.500.000đồng; 01 máy bắn ốc nhãn hiệu Cmart Nationnal màu xám đen 1.800.000đồng; 05 bình ắc quy nhãn hiệu GS chưa qua sử dụng trị giá 1.100.000đồng; Tổng tài sản bị trộm cắp có tổng trị giá tài sản là 12.789.000đồng.

Tại Kết luận định giá tài sản số 33/KL-HĐĐGTS ngày 04/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân T phố Thanh Hóa kết luận: 01 ổ khóa Việt Tiệp mà Hoàng Văn C làm hư hỏng có giá trị là 16.250 đồng”.

Theo báo cáo của bị hại anh Nguyễn Hoàng Đ tài sản bị trộm cắp là 01 xe môtô Super Cup 82 màu xanh trắng, biển kiểm soát 36F1-6214; 07 chai dầu nhớt nhãn hiệu Noil Qtex chưa qua sử dụng; 10 (mười) xăm xe máy và 03 lốp xe máy nhãn hiệu Casumina; 01 máy bắn ốc Makita màu xanh trị; 01 máy bắn ốc nhãn hiệu Cmart Nationnal màu xám đen; 05 bình ắc quy nhãn hiệu GS chưa qua sử dụng; Tuy nhiên sau khi kiểm tra lại tài sản thì anh Đ khẳng định: anh không bị mất trộm xăm xe máy, lốp ô tô. Số tài sản anh bị trộm cắp gồm: 01 xe môtô Super Cup 82 màu xanh trắng; 07 chai dầu nhớt nhãn hiệu Noil Qtex chưa qua sử dụng; 01 máy bắn ốc Makita màu xanh trị; 01 máy bắn ốc nhãn hiệu Cmart Nationnal màu xám đen; 02 bình ắc quy nhãn hiệu GS chưa qua sử dụng;

Vì vậy, tổng giá trị tài sản các bị cáo trộm cắp được kết luận là 10.583.000 đồng.

Đối với chiếc cưa sắt C mang theo để trộm cắp tài sản là vật chứng vụ án, n C đã vứt trên đường và không nhớ vị trí vứt, nên Cơ quan công an không thu giữ được.

Xe môtô Wave nhãn hiệu ESPERO màu trắng đen biển kiểm soát 36AA-08691 là xe của anh Hoàng Văn Đ1, anh Đ1 không biết C mượn xe để làm phương tiện phạm tội. Cơ quan Điều tra Công an T phố Thanh Hóa đã ra Quyết định xử lý vật chứng: Trả lại xe cho anh Hoàng Văn Đ1, anh Đ1 đã nhận lại xe và không có yêu cầu gì khác.

Anh Nguyễn Đình H giao nộp 01 chai dầu nhớt nhãn hiệu Noil Qtex; 01 máy bắn ốc Makita màu xanh; 01 máy bắn ốc nhãn hiệu Cmart Nationnal màu xám đen; 02 bình ắc quy nhãn hiệu GS mua của C cho Cơ quan điều tra. Cơ quan Điều tra Công an T phố Thanh Hóa đã trả lại tài sản trên cho anh Nguyễn Hoàng Đ, anh Đ đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì.

Chị Hà Thị T giao nộp 01 xe môtô Super Cup 82 màu xanh trắng, biển kiểm soát 36F1-6214 cho Cơ quan điều tra. Cơ quan Điều tra Công an T phố Thanh Hóa đã trả lại xe cho anh Nguyễn T Đ1, anh Đ1 đã nhận lại xe và không có yêu cầu gì.

Quá trình điều tra, Hoàng Văn C và Lê Duy K đã T khẩn khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị can phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã thu thập được trong quá trình điều tra.

Tại bản cáo trạng số: 179/CT-VKSTPTH ngày 22/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân T phố Thanh Hoá đã truy tố Hoàng Văn C về tội trộm cắp tài sản theo điểm q khoản 2 Điều 173 BLHS và Lê Duy K về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS;

Tại phiên tòa Đ1 diện VKS vẫn giữ nguyên quyết định truy tố; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: điểm q khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS (đối với bị cáo C) khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 (đối với bị cáo K); Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự; (Đối với cả hai bị cáo), Mức hình phạt VKS đề nghị đối với bị cáo Hoàng Văn C từ 26 đến 30 tháng tù, bị cáo Lê Duy K từ 09 đến 12 tháng tù.

Ngoài ra VKS còn đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo và buộc các bị cáo pH chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không tranh luận gì với Đ1 diện VKS.

Lời nói sau cùng các bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã được thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến khiếu nại gì.

Về hành vi phạm tội:

Khoảng 23h ngày 26/9/2023, Hoàng Văn C và Lê Duy K đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu lén lút chiếm đoạt 01 xe môtô Super Cup 82 màu xanh trắng, biển kiểm soát 36F1-6214; 07 chai dầu nhớt nhãn hiệu Noil Qtex; 01 máy bắn ốc Makita màu xanh; 01 máy bắn ốc nhãn hiệu Cmart Nationnal màu xám đen; 02 bình ắc quy nhãn hiệu GS của anh Nguyễn Hoàng Đ. Tổng trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 10.583.000 đồng.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai tại cơ quan điều, phù hợp với báo cáo của người bị hại, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi phạm tội nêu trên của Hoàng Văn C đủ các dấu hiệu cấu T tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm q khoản 2 Điều 173 BLHS và Lê Duy K có đủ các dấu hiệu cấu T tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS như cáo trạng của VKSND T phố Thanh Hóa truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Lợi dụng chủ tài sản sơ hở trong việc quản lý tài sản các bị cáo đã lén lút chiếm đoạt tài sản rồi nhanh chóng tẩu thoát. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân, làm mất trật tự trị an C, cần pH xử lý nghiêm minh.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo C không có tình tiết tăng nặng. Năm 2020 bị cáo K bị Tòa án nhân dân T phố Thanh Hóa xử 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (chấp hành xong ngày 20/10/2021) chưa được xóa án tích, nên lần phạm tội này pH chịu tình tiết tăng nặng là “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.

Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo được hưởng tình tiết T khẩn khai báo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 – BLHS; bị cáo C được hưởng tình tiết “đầu thú” quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

Căn cứ vào nhân thân, mức độ hành vi phạm tội thấy rằng: Các bị cáo đang trong độ tuổi lao động , n không chịu khó làm ăn, mà ham chơi, thích hưởng thụ. Bản thân các bị cáo từng bị xét xử n không lấy đó làm bài học để cải sửa bản thân, điều đó cho thấy sự liều lĩnh, coi thường pháp luật của bị cáo. Mặc dù giá trị tài sản trộm cắp là 10.583.000đồng (dưới 50.000.000đồng), n bị cáo C có 03 tiền án nên lần phạm tội này bị cáo pH chịu tình tiết định khung hình phạt là “tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm q khoản 2 Điều 173 BLHS.

Trong vụ án này các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội dưới hình thức đồng phạm giản đơn, không có sự bàn bạc, phân công, câu kết chặt chẽ. N cũng cần áp dụng Điều 58 - BLHS để xem xét hình phạt cho từng bị cáo. Bị cáo Hoàng Văn C là người rủ bị cáo Lê Duy K đi trộm cắp tài sản, cũng là người chuẩn bị công cụ, trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp và sử dụng tài sản trộm cắp. Do đó, có vai trò chính trong vụ án và pH chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo K. Bị cáo K tuy không được hưởng lợi gì từ hành vi trộm cắp n là người đứng ngoài cảnh giới và giúp bị cáo C đem tài sản trộm cắp được về nhà C. Vì vậy vai trò của bị cáo K xếp sau bị cáo C và chịu mức hình phạt thấp hơn bị cáo C là phù hợp.

Do các bị cáo không có công việc ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

Về phần dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị trộm cắp và không có yêu cầu gì về dân sự. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo pH bồi thường nên công nhận phần dân sự giữa các bị cáo và bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được giải quyết xong.

Về án phí: Các bị cáo pH pH nộp án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm q khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 (đối với bị cáo C) khoản 1 Điều 173, Điểm s khoản 1, Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 - BLHS (đối với bị cáo K) Điều 38; Điều 58 – Bộ luật hình sự; Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí tòa án (đối với cả 2 bị cáo );

Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn C, Lê Duy K phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn C 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/3/2024

Bị cáo Lê Duy K 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Về dân sự: Công nhận phần dân sự giữa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được giải quyết xong.

Án phí: Mỗi bị cáo pH chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, các bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ