vanban.org

Bản án 233/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Hoàng Mai, TP. Hà Nội Tuyên án 23/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Vũ Đình C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Vũ Đình C 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Vũ Đình C. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Đình C - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vũ Đình C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HOÀNG MAI
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 233/2023/HS-ST
Ngày: 23/9/2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Đỗ Phương Minh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Sơn

Bà Trần Thị Kim Dung

- Thƣ ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Minh Hiếu - Thư ký Toà án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 213/2023/TLST-HS ngày 04 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 221/2023/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 8 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 76/2023/QĐ-HPT ngày 08 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:

Vũ Đình C, sinh năm 1992; Nơi cư trú: thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vũ Đình C1, sinh năm 1967 và bà: Vũ Thị N, sinh năm 1972; Danh chỉ bản số 420, lập ngày 01/6/2023 tại Công an quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; Có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Anh Vũ T D, sinh năm 2000; Nơi cư trú: số x, ngõ y, phố P, phường L, quận T, thành phố Hà Nội; Xin vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 19/3/2023, anh Vũ T D đến chơi nhà họ hàng là ông Đinh Văn G tại số 19, ngách 4, ngõ 260, phố M, phường T, quận H, thành phố Hà Nội. Khi đến nơi, anh D dựng chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 29F1-189.47 cạnh phòng trọ của anh Lê Văn S tại ngách 4, ngõ 260, phố Tân Mai, phường Tương Mai, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội, cách nhà ông G khoảng 10m. Đến 22 giờ, anh D ra lấy xe máy đi về thì thấy xe đã bị mất nên đến trình báo sự việc tại cơ quan công an.

Quá trình điều tra xác định: Khoảng 20 giờ ngày 19/3/2023, Vũ Đình C ăn tối ở phòng trọ của anh Lê Văn S cùng các anh Lê Văn T, sinh năm 1991; Vũ D T1, sinh năm 1982 và Lê Văn S, sinh năm 1989 (đều là người cùng quê ở thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình). Sau khi ăn tối xong, anh T1 và anh S đi ngủ, còn C và T đi về. Khi đi đến trước cửa nhà ông G, C nhìn thấy chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 29F1-189.47 của anh D có khóa cổ, không khóa càng đang dựng cạnh cửa nhà và quan sát xung quanh thấy không có người trông giữ. Lúc này, C đang không có phương tiện để đi lại nên đã quay vào trong phòng trọ của anh S lấy 01 Tuốc-nơ-vít của anh T1 ra mở mặt nạ xe, rồi tháo dây điện bên trong để mở được khóa điện, sau đó C kéo xe vào bên trong nhà xe của khu trọ, lúc này xe vẫn còn khóa cổ nên C ngồi lên yên xe đạp gãy khóa cổ, khi phá được khóa cổ xe C điều khiển xe máy trên về nhà trọ của C ở tòa nhà Vinhome Smart 1, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội. Đến sáng ngày 22/3/2023, C liên lạc với bố đẻ là ông Vũ Đình C1, sinh năm 1967, trú tại: thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình báo lại việc C đã trộm cắp chiếc xe máy trên và nhờ ông C1 đến nơi thuê trọ của C đem chiếc xe máy trên trả cho người bị hại. Khoảng 10 giờ cùng ngày ông C1 đã đem chiếc xe máy đến nhà ông Đinh Văn G để trả lại cho anh Vũ T D. Gia đình anh D nhận lại xe và giao nộp lại cơ quan công an. Đến ngày 15/5/2023, ông Vũ Đỉnh C1 vận động và đưa Vũ Đình C đến đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.

Vật chứng của vụ án đã thu giữ gồm:

- Thu do ông Vũ Văn S1 (là bố đẻ anh Vũ T D) giao nộp: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng-đen, biển kiểm soát 29F1-189.47, số khung 093771, số máy 5093893.

- Thu do anh Vũ D T1 giao nộp: 01 Tua vít bằng kim loại (loại 4 cạnh), có cán bằng nhựa màu đỏ-đen, kích thước khoảng 20cm.

- Thu do chị Nguyễn Phương T2 là chủ số nhà 32, ngách 4, ngõ 260, phố Tân Mai (tại vị trí hiện trường vụ án) giao nộp: 01 USB lưu giữ đoạn hình ảnh do máy ghi hình ghi lại trong thời gian từ 21 giờ 50 phút đến 21 giờ 57 phút ngày 19/3/2023, đối tượng nam thanh niên (kết quả nhận dạng xác định là Vũ Đình C) dắt trộm chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 29F1-189.47.

Tại Kết luận định giá tài sản số 123/KL-HĐĐGTS ngày 16/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Hoàng Mai kết luận: 01 chiếc xe máy Wave màu trắng, biển kiểm soát 29F1-18947, số khung 093771, số máy 5093893, đã qua sử dụng, trị giá 5.000.000 đồng.

Quá trình điều tra, xác định chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng-đen, biển kiểm soát 29F1-189.47 đứng tên đăng ký sở hữu là của anh Lê Thanh H, sinh năm 1995, trú tại: số 18, ngõ 108, đường P, phường Y, quận T, thành phố Hà Nội. Anh Lê Thanh H trình bày đã mua và đăng ký sở hữu chiếc xe trên và sau đó đã tặng cho em họ là anh Vũ T D để sử dụng. Tại Kết luận giám định số 3317/KL-KTHS ngày 29/5/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội, kết luận: xe máy nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 29F1-189.47 xác định được số khung nguyên thủy: RLHHC1211DY093771 và số máy nguyên thủy: HC12E-5093893. Tra cứu không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Ngày 20/7/2023 cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 123 và trả lại cho anh Vũ T D chiếc xe máy trên.

Đối với vật chứng là 01 Tua vít bằng kim loại (loại 4 cạnh), có cán bằng nhựa màu đỏ-đen, kích thước khoảng 20cm đã thu giữ, là đồ dùng cá nhân của anh Vũ D T1, anh T1 trình bày không biết việc C lấy chiếc Tua vít trên để mở khóa xe và quá trình điều tra không chứng minh được anh T1 có hành vi vi phạm liên quan đến vụ án nên không có cơ sở để đề cập xử lý. Ngày 20/7/2023 cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng và trả lại anh T1 chiếc Tua vít trên.

Đối với vật chứng là 01 USB lưu giữ hình ảnh liên quan đến vụ án được lưu giữ theo hồ sơ vụ án.

Ngoài ra, theo khai nhận ban đầu của Vũ Đình C, khi C phá khóa xe để trộm cắp có sự giúp sức của Lê Văn T, sau đó C lại khai chỉ có một mình C thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe máy trên và một mình điều khiển xe về nơi thuê trọ. Quá trình điều tra, đối tượng T vắng mặt tại nơi cư trú, không làm việc được với T. Theo hình ảnh camera do máy ghi hình ghi lại tại hiện trường, chỉ thấy xuất hiện một mình Vũ Đình C là người dắt xe và cũng là người điều khiển xe rời khỏi hiện trường, không thấy xuất hiện hình ảnh của đối tượng T tại thời điểm xảy ra vụ án. Ngoài lời khai ban đầu của C nêu trên, không có tài liệu khác chứng minh nên không đủ căn cứ quy kết đối tượng T tham gia thực hiện hành vi trộm cắp cùng với Vũ Đình C, để đề cập xử lý.

Đối với ông Vũ Đình C1, sau khi biết C thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, ông C1 đã tích cực khuyên C trả lại xe và vận động C đến đầu thủ, do đó không xem xét trách nhiệm của ông C1.

Về trách nhiệm dân sự, bị hại là anh Vũ T D đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu Vũ Đình C bồi thường gì thêm về dân sự và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho C.

Tại Bản cáo trạng số 212/CT-VKS-HM ngày 03 tháng 8 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai truy tố Vũ Đình C về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

* Tại phiên tòa: Bị cáo Vũ Đình C khai nhận đã thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe máy như nội dung cáo trạng đã truy tố và không có ý kiến tranh luận với luận tội và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai tham gia phiên tòa sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, trong thời gian chờ xét xử của Tòa án bị cáo lại có hành vi vi phạm pháp luật tại địa phương khác, chứng tỏ bị cáo không biết hối lỗi, sửa chữa sai lầm của mình, thể hiện bị cáo coi thường pháp luật, do đó cần xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để đảm bảo răn đe, giáo dục đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Vũ Đình C từ 8 tháng đến 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; Về trách nhiệm dân sự: bị hại không có yêu cầu bồi thường gì nên không xem xét.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an quận Hoàng Mai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại; tang vật thu giữ; bản kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 21 giờ 50 phút, ngày 19/3/2023 tại địa chỉ ngách 4, ngõ 260, phố Tân Mai, phường Tương Mai, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội, Vũ Đình C đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của anh VũDT1 là 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 29F1-189.47, số khung 093771, số máy 5093893, đã qua sử dụng, trị giá 5.000.000 đồng.

Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Bị cáo là thanh niên có sức khỏe nhưng không chịu tu dưỡng, lao động chân chính. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, thể hiện ý thức coi thường pháp luật, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an và an toàn xã hội, gây tâm lý lo lắng, bất bình trong nhân dân. Bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của người bị hại để lén lút trộm cắp tài sản của người bị hại. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng cố ý thực hiện.

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai truy tố bị cáo Vũ Đình C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Giá trị tài sản bị chiếm đoạt không lớn, tài sản đã được thu hồi trả lại cho bị hại. Bị cáo Vũ Đình C không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo thành khẩn khai báo; bị hại có đơn đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Ngoài ra, tại phiên tòa bị cáo khai trong thời gian chờ Tòa án xét xử bị cáo thực hiện hành vi vi phạm pháp luật tại địa bàn khác và đã được cơ quan công an triệu tập nhưng bị cáo chưa đến làm việc theo giấy triệu tập của cơ quan công an, điều đó thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo.

Về quyết định hình phạt: Từ những phân tích trên, căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, nhưng có thể xử phạt bị cáo mức khởi điểm của khung hình phạt cũng bảo đảm mục đích của hình phạt.

Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Vũ Đình C là lao động tự do, không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là anh VũDT1 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo Vũ Đình C phải bồi thường gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với ông Vũ Đình C1 là bố của bị cáo Vũ Đình C, sau khi biết C thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, ông C1 đã tích cực khuyên C trả lại chiếc xe máy và vận động C đi đầu thú, do đó cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hoàng Mai không đề cập xử lý đối với ông C1 là có căn cứ.

Đối với Lê Văn T theo khai nhận ban đầu của Vũ Đình C thì T có giúp sức khi C phá khóa xe để trộm cắp. Quá trình điều tra, đối tượng T vắng mặt tại nơi cư trú, không làm việc được với T và không có tài liệu nào để chứng minh. Vũ Đình C thay đổi lời khai xác nhận T không cùng tham gia trộm cắp tài sản cùng với C nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hoàng Mai không đề cập xử lý là đúng.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

- Căn cứ các điều 106, 136, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Vũ Đình C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Xử phạt bị cáo Vũ Đình C 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Vũ Đình C.

3. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo Vũ Đình C phải bồi thường gì về dân sự, nên Hội đồng xét xử không xét.

4. Về án phí: Bị cáo Vũ Đình C phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Vũ Đình C có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ