vanban.org

Bản án 233/2023/HN-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị Mỹ T.

[1] Về hôn nhân: Chị Trần Thị Mỹ T được ly hôn với anh Nguyễn Minh T. [2] Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Bình A, sinh ngày xx/xx/xxxx cho chị Trần Thị Mỹ T tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi lao động được. Chị T không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị Mỹ T.
  • Căn cứ chính? Điều 277 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH TIỀN GIANG
Bản án số: 233/2023/HN-ST
Ngày: 30/5/2023
V/v “Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nguyên

Các Hội thẩm nhân dân:

+ Ông Phạm Minh Đức

+ Bà Trƣơng Thị Út Mỹ

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Tuyền – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân thụ lý số 94/2022/TLST-HN ngày 28/10/2022 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 176/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/4/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 155/2023/QĐST-HNGĐ ngày 19/5/2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: TRẦN THỊ MỸ T, sinh năm xxxx; Địa chỉ: khu phố X, thị trấn T, huyện G, tỉnh T (xin vắng mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Luật sƣ Trần Quang V – Văn phòng Luật sư Phan Thị U thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Tiền Giang (có mặt).

2. Bị đơn: NGUYỄN MINH T, sinh năm xxxx; Địa chỉ: khu phố X, thị trấn T, huyện G, tỉnh T (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn xin ly hôn và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trần Thị Mỹ T trình bày: chị và anh T cưới nhau vào năm 2015 do hai bên tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Tân Hòa. Quá trình chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, anh T không lo cho gia đình, vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Chị và anh T ly thân nhau từ tháng 02/2023 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn lại được nữa nên chị xin được ly hôn với anh T.

+ Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Bình A, sinh ngày xx/xx/xxxx, hiện con đang sống với chị, khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

+ Về tài sản chung: Không có.

+ Về nợ chung: Không có.

* Bị đơn anh Nguyễn Minh T đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng cho anh T nhưng anh T không đến Tòa án và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu xin ly hôn của chị T.

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn Luật sư Trần Quang V tình bày: Hôn nhân của chị T và anh T là hợp pháp, quá trình chung sống do anh T không lo cho gia đình, bất đồng quan điểm sống. Quá tình giải quyết vụ án anh T không đến Tòa án trình bày ý kiến của mình, anh T không qua tâm đến tình cảm vợ chồng. Vì vậy, tình trạng hôn nhân của anh chị đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T.

Vê con chung: Hiện cháu Nguyễn Bình A, sinh ngày xx/xx/xxxx đang sống ổn định với chị T. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu được tiếp tục nuôi con của chị T. Chị T không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều tuân thủ đúng quy định pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: Chị T yêu cầu ly hôn với anh T và yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung tên Nguyễn Bình A, sinh ngày xx/xx/xxxx, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con là có cơ sở chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét toàn diện chứng cứ và ý kiến của các đương sự:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị T và anh T tự nguyện kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Tân Hòa, nay chị T xin ly hôn với anh T nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ đang tranh chấp là “xin ly hôn”. Bị đơn anh Nguyễn Minh T trú tại địa chỉ: khu phố Xóm Gò, thị trấn Tân Hòa, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Nguyên đơn chị Trần Thị Mỹ T có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Nguyễn Minh T đã được triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng anh T vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị T và anh T theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Mỹ T, Hội đồng xét xử thấy rằng: Chị T yêu cầu xin ly hôn với anh T do quá trình chung sống, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh T không lo cho gia đình, vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Chị T và anh T có thời gian ly thân từ tháng 02/2023 đến nay, trong thời gian ly thân chị và anh T đều không có biện pháp nào để hàn gắn tình cảm với nhau. Anh T vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, anh T vẫn không đến để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu ly hôn của chị T, chứng tỏ anh T không có thiện chí để hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị T. Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị T và anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị T yêu cầu ly hôn với anh T là có căn cứ chấp nhận.

- Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Bình A, sinh ngày xx/xx/xxxx hiện đang sống với chị T, khi ly hôn chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung. Hội đồng xét xử xét thấy cháu A đang sống ổn định với chị T, anh T cũng không có ý kiến gì về việc yêu cầu của chị T được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và theo nguyện vọng của cháu A là được tiếp tục sống với chị T nên Hội đồng xét xử tiếp tục giao cháu A cho chị T nuôi dưỡng. Về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, chị T không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về tài sản chung và nợ chung: chị T trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Xét đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát.

Về án phí: do chị T là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên chị T phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm a, b khoản 2 điều 277 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị Mỹ T.

[1] Về hôn nhân: Chị Trần Thị Mỹ T được ly hôn với anh Nguyễn Minh T.

[2] Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Bình A, sinh ngày xx/xx/xxxx cho chị Trần Thị Mỹ T tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi lao động được. Chị T không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Chị T và anh T có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được ngăn cản.

Vì lợi ích mọi mặt của con, khi cần thiết có thể thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con, người trực tiếp nuôi con hoặc có sự thay đổi khác.

[3] Về án phí: Chị Trần Thị Mỹ T phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0028576 ngày 16/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Công Đông nên chị T đã nộp xong án phí.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm yết bản án hợp lệ.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự./.

Cỡ chữ