vanban.org

Bản án 233/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 25/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/3/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hoàng Thắng - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THUẬN AN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 233/2022/HS-ST
Ngày: 25 - 8 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Văn Hưng.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Yến Loan và bà Lê Thị Ngọc Giàu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Cảnh Khang, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tiến hành phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 220/2022/HSST ngày 15 tháng 7 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 243/2022/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Hoàng T, sinh năm 2002 tại tỉnh Bình Dương; giới tính: Nam; nơi thường trú: Số 112/17 khu phố C, phường LT, thành phố TA, tỉnh BD; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: không biết chữ; nghề nghiệp: Không; con ông Nguyễn Hoàng N, sinh năm 1966 và bà Lê Thị Tuyết T, sinh năm 1967; chưa vợ, con; tiền sự: Không.

Tiền án: Bản án số 10/2021/HS-ST ngày 18/01/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (ngày 04/3/2022 chấp hành xong).

Bị cáo bị bắt và tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/3/2022 cho đến nay; có mặt.

- Bị hại: Ông Lữ Hoàng A, sinh năm 1974; thường trú: Ấp Trung Phú 2, xã VP, huyện TS, tỉnh AG; tạm trú: Khu phố 1B, phường AP, thành phố TA, tỉnh BD; có mặt.

- Người làm chứng: Ông Nguyễn Phúc D, sinh năm 1976; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Nguyễn Hoàng T và đối tượng tên Hùng (tên gọi khác Bốn, không rõ nhân thân, địa chỉ) quen biết với nhau. Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 19/3/2022, bị cáo T đang đi bộ tại khu vực chợ Hài Mỹ, khu phố Bình Phú, phường Bình Chuẩn thì gặp “H” điều khiển xe mô tô kiểu dáng Dream (không xác định được biển số) chạy ngang qua. Đối tượng H rủ đi trộm cắp tài sản thì bị cáo T đồng ý. Sau đó, đối tượng H điều khiển xe môtô chở bị cáo T đi sang địa bàn phường Tân Phước Khánh, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương rồi chạy vòng về đường Lê Thị Trung, thuộc phường An Phú, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

Khoảng 21 giờ 40 phút cùng ngày, khi cả hai đi đến khu vực khu phố 1B, phường An Phú thì phát hiện xe môtô hiệu Yamaha, màu trắng đen, biển số 67M1 - 301.76 của ông Lữ Hoàng A đang dựng tại lề đường, xe vẫn trong tình trạng đang nổ máy. Ông A dựng xe cách khoảng 03m và đứng nói chuyện với ông Nguyễn Phúc D. Thấy vậy, đối tượng H quay đầu xe, chạy qua chỗ ông Hoàng A đứng khoảng 20m thì dừng lại và ngồi trên xe cảnh giới, bị cáo T xuống xe đi bộ tiếp cận chiếc xe mô tô biển số 67M1-301.76 của ông Hoàng A. Lợi dụng lúc không có ai chú ý, bị cáo T ngồi lên xe mô tô biển số 67M1-301.76 rồi tăng ga bỏ chạy thì bị ông Hoàng A và ông D phát hiện đuổi theo khoảng hai mét thì đuổi kịp, kéo xe lại làm bị cáo T ngã xuống đường. Ông Lữ Hoàng A cùng với ông D và những người dân có mặt tại hiện trường đã khống chế bị cáo T và thông báo cho Công an phường An Phú lập biên bản bắt người phạm tội quả tặng và thu giữ vật chứng thu giữ gồm 01 xe mô tô hiệu Yamaha biển số 67M1-301.76 và 01 USB bên trong chứa đoạn video ghi lại diễn biến vụ việc. Đối tượng tên H thì phóng xe chạy khỏi hiện trường.

Kết luận định giá tài sản ngày 24/3/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Thuận An kết luận: 01 xe mô tô hiệu Yamaha biển số 67M1-301.76 có giá trị 9.000.000 đồng.

Cáo trạng số 215/CT-VKS.TA ngày 12/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Thắng thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và được bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo T phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

- Về hình phạt: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T mức hình phạt từ 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng đến 01 (Một) năm 09 (chín) tháng tù.

- Về xử lý vật chứng:

Đối với xe mô tô hiệu Yamaha biển số 67M1-301.76 là tài sản thuộc sở hữu của ông Lữ Hoàng A. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đã trả lại tài sản cho ông Lữ Hoàng A là phù hợp pháp luật nên không đề nghị Hội đồng xét xử đề cập giải quyết.

Đối với 01 USB bên trong chứa đoạn video ghi lại diễn biến nội dung sự việc, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đã trích xuất dữ liệu hình ảnh phục vụ quá trình điều tra. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An tiếp tục lưu trữ để phục vụ điều tra.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Lữ Hoàng A đã nhận lại xe, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường. Do đó, không đề nghị Hội đồng xét xử đề cập giải quyết.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hoàng T thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố.

Quá trình điều tra bị hại ông Lữ Hoàng A trình bày: Khoảng 21 giờ 40 phút ngày 19/3/2022, khi ông A dừng xe đứng nói chuyện với ông Nguyễn Phúc D tại đoạn đường Lê Thị Trung thuộc khu phố 1B, phường An Phú, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương thì bị cáo Nguyễn Hoàng T lén lút chiếm đoạt. Tuy nhiên, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An trả lại xe cho ông nên không yêu cầu bị cáo bồi thường.

Trong phần trình bày lời nói sau cùng, bị cáo đã nhận thấy hành vi của bản thân là phạm tội, ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Về tội danh và khung hình phạt: Lời khai của bị cáo thống nhất với nhau về quá trình thực hiện hành vi phạm tội, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của bị hại và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ kết luận:

Khoảng 21 giờ 40 phút ngày 19/3/2022, tại đường Lê Thị Trung thuộc khu phố 1B, phường An Phú, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, bị cáo Nguyễn Hoàng T đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt của ông Lữ Hoàng A 01 xe mô tô hiệu Yamaha biển số 67M1-301.76 trị giá 9.000.000đ (Chín triệu đồng).

Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật hình sự. Tuy nhiên, vì mục đích tư lợi, thái độ coi thường pháp luật nên vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo Nguyễn Hoàng T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Như vậy đủ căn cứ kết luận cáo trạng truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Về vai trò của bị cáo trong vụ án: Trong vụ án này có đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo T có vai trò thực hành tích cực.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Hoàng T được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và được bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Hoàng T đã bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích nay lại phạm tội ít nghiêm trọng do cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm theo quy định của điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Căn cứ quyết định hình phạt: Xét thấy bị cáo Nguyễn Hoàng T phạm tội với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm, mức hình phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là có căn cứ, đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Lữ Hoàng A đã nhận lại chiếc xe bị chiếm đoạt, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 xe mô tô hiệu Yamaha biển số 67M1-301.76 là tài sản thuộc sở hữu của ông Lữ Hoàng Anh, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đã trả lại xe cho ông Lữ Hoàng A, Hội đồng xét xử thấy phù hợp pháp luật.

Đối với 01 USB bên trong chứa đoạn video ghi lại diễn biến vụ việc, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đề nghị tiếp tục lưu trữ để mở rộng điều tra là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí sơ thẩm: Bị cáo T phạm tội, bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về kiến nghị: Đối tượng tên H đã cùng với bị cáo T thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt của ông Lữ Hoàng A chiếc xe mô tô trị giá 9.000.000 đồng. Do đó, kiến nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An tiếp tục xác minh xử lý đối tượng tên H theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Các điều 106, 135, 136, 260, 290, 298, 299, 326, 331 và 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;

- Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; các điều 46 và 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/3/2022.

3. Về xử lý vật chứng: Giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tiếp tục lưu trữ 01 (Một) chiếc USB bên trong chứa đoạn video ghi lại diễn biến vụ việc để mở rộng điều tra theo quy định của pháp luật.

4. Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Hoàng T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo và bị hại có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ