vanban.org

Bản án 233/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 20/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự

Xử phạt: Bị cáo Trương Văn L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 07/9/2022. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Văn L - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VIỆT YÊN
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 233/2022/HS-ST
Ngày: 20/12/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG.

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Tuyết

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Vân

Ông Hoàng Văn Tấn

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang – Thư ký TAND huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang

Đại diện VKSND huyện Việt Yên tham gia phiên toà: Ông Đoàn Thế Đức – Kiểm sát viên.

Trong ngày 20/12/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 253/2022/TLST - HS ngày 24/11/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử 241/2022/QĐXXST- HS ngày 07/12/2022, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trương Văn L, sinh năm 1987; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Thôn M, xã V, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 4/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Văn M và bà Dương Thị T; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự, nhân thân: không; Bị cáo ra đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/9/2022 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang. (có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại

1. Công ty TNHH L – ICT Việt Nam

Địa chỉ: Khu Công nghiệp Q, xã Q, huyện V, tỉnh Bắc Giang

Người đại diện theo pháp luật: ông Le Cheng J – chức vụ Tổng Giám đốc

Người đại diện theo ủy quyền: ông Hoàng Đình L1 – Nhân viên hành chính (vắng mặt)

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Nguyễn Quang H – sinh năm 1998 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn C, xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang

2. Anh Nguyễn Mạnh T – sinh năm 1998 (vắng mặt)

Địa chỉ: Khu N, xã V, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ

3. Anh Nguyễn Tiến C – sinh năm 1996 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn C, xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang

4. Anh Trương Văn H – sinh năm 1990 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn M, xã V, huyện C, tỉnh Lạng Sơn

5.Anh Đỗ Đình T1 – sinh năm 1998 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn P, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa

6. Anh Trần Văn Q – sinh năm 1997 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Bắc Gang

7. Anh Triệu Đức Cao – sinh năm 1998 (vắng mặt)

Địa chỉ: TDP M, thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang

- Người làm chứng:

1. Anh Lâm Văn C1 – sinh năm 1992 (vắng mặt)

2. Chị Lý Thu H1 – sinh năm 2002 (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trương Văn L- sinh năm 1987, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn M, xã V, huyện C, tỉnh L; nơi ở: thôn 7, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang là công nhân của Công ty TNHH L-ICT (gọi tắt là Công ty L) thuộc Khu công nghiệp Q, xã Q, huyện V, tỉnh Bắc Giang từ ngày 22/8/2022, được phân công nhiệm vụ xếp xốp vào các khay đựng mặt đồng hồ thông minh tại tầng 4, chuyển 8, xưởng B1 của Công ty. Quá trình làm việc, L được công ty phân công tăng cường xuống tầng 3 của xưởng B1 để phân loại mặt đồng hồ thông minh đã thành phẩm. Trong thời gian nghỉ giải lao, L đi xung quanh xưởng, phát hiện tại lối cầu thang lên tầng 5 có 02 ô thoáng, kích thước (50x50)cm, thông ra phía sau xưởng B1, bên dưới là thảm cỏ nên L nảy sinh ý định trộm cắp các mặt đồng hồ thông minh nhãn hiệu Apple Watch Series 8 rồi mang ra ngoài theo ô thoáng để bán lấy tiền chi tiêu. Trong các ngày từ ngày 27/8/2022 đến ngày 31/8/2022, L đã thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản, có tổng giá trị là 33.291.000 đồng, cụ thể như sau:

* Vụ thứ nhất: Khoảng thời gian từ 10 giờ đến 11 giờ ngày 27/8/2022, L thực hiện công việc phân loại mặt đồng hồ thành phẩm trên các khay tại tầng 3, xưởng B1 của Công ty L; lợi dụng xung quanh không có ai trông coi, L dùng tay phải trộm cắp 02 mặt đồng hồ thông minh nhãn hiệu Apple Watch Series 8 màu đen cho vào túi quần bên phải phía trước đang mặc của L rồi tiếp tục làm việc. Khoảng 15 phút sau, L đi đến vị trí ô thoáng tại cầu thang lên tầng 5, thấy gần ô thoáng có 01 xô sơn bên trong đựng các mảnh vải là nguyên liệu bỏ, L lấy 01 mảnh vải cuộn 02 mặt đồng hồ vừa lấy được vào bên trong, buộc kín lại rồi ném qua ô thoáng xuống bãi cỏ sau xưởng B1. Khoảng 12 giờ cùng ngày, trên đường đến nhà ăn của Công ty để ăn trưa, L ra bãi cỏ tìm bọc vải bên trong đựng 02 mặt đồng hồ đã ném xuống trước đó rồi cầm trên tay, đi đến nhà để xe của Công ty, rồi cất giấu vào trong cốp xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 12X1- 055.57 dựng tại đây rồi quay lại xưởng tiếp tục làm việc. Khoảng 15 giờ cùng ngày, cùng với thủ đoạn như trước, L tiếp tục trộm cắp 02 mặt đồng hồ thông minh nhãn hiệu Apple Watch Series 8 màu đen mặt đồng hồ nữa và cất vào cốp xe. Khoảng 17 giờ ngày 27/8/2022, sau khi tan làm, L điều khiển xe mô tô về phòng trọ ngủ, vẫn để các mặt đồng hồ trong cốp xe. Sáng ngày 28/8/2022, L điều khiển xe mô tô mang theo các mặt đồng hồ trộm cắp được đến cửa hàng mua bán điện thoại “Quang Huy Mobile” tại thôn C, xã Nội H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (do anh Nguyễn Quang H- sinh năm 1998, trú tại thôn A, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ làm chủ). L lấy 01 mặt đồng hồ trong cốp xe ra, các mặt đồng hồ còn lại vẫn để lại trong cốp, cầm vào cửa hàng rồi đưa cho anh H 01 mặt đồng hồ, nhờ anh H kiểm tra xem đồng hồ có dùng được hay không và được anh H đồng ý, bảo L để mặt đồng hồ lại cửa hàng để kiểm tra, L đồng ý để lại cửa hàng của anh Huy 01 mặt đồng hồ rồi đi về phòng trọ.

* Vụ thứ hai: Khoảng 12 giờ ngày 29/8/2022, Lđi bộ từ tầng 4, xưởng B1 của Công ty L xuống tầng 2 của xưởng B1 để tìm xem có đồng hồ loại thành phẩm không để trộm cắp, phát hiện thấy trên chuyền sản xuất có nhiều hộp catton màu trắng đựng trên các khay đựng hàng màu trắng. L đi đến cuối chuyền, dùng tay phải lấy 01 hộp catton màu trắng, giấu vào cạp quần trước bụng rồi đem lên ô thoáng ở cầu thang lên tầng 5. Tại đây, L mở hộp kiểm tra, phát hiện bên trong có 01 mặt đồng hồ thông minh nhãn hiệu Apple Watch Series 8 và 01 sạc đồng hồ không dây. L xé vỏ nhỏ hộp rồi để vụn vỏ hộp và sạc không dây xuống đáy xô sơn gần ô thoáng, phủ vải lên. Sau đó, L tiếp tục lấy 01 mảnh vải có sẵn trong xô sơn, cuộn mặt đồng hồ vừa trộm cắp được cho vào bên trong buộc kín các đầu rồi ném qua ô thoáng xuống bãi cỏ phía dưới. Đến giờ ăn cơm trưa, L ra bãi cỏ tìm bọc vải bên trong đựng 01 mặt đồng hồ đã ném xuống trước đó rồi cầm trên tay, đi đến nhà để xe của công ty cất giấu vào cốp xe mô tô biển kiểm soát 12X1- 055.57 dựng tại đây rồi quay lại xưởng tiếp tục làm việc. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày 31/8/2022, L mang 01 mặt đồng hồ này đến bán cho anh H, anh Hkiểm tra thấy mặt đồng hồ khởi động được nên đồng ý mua với giá 3.500.000 đồng và L đồng ý bán. Anh H đưa số tiền 3.500.000 đồng cho L, L cầm tiền rồi đi về.

* Vụ thứ ba: Ngày 31/8/2022, với thủ đoạn tương tự như trên, L đã lấy được trên chuyền tại tầng 2, xưởng B1 của Công ty L có 02 hộp catton màu trắng rồi mang đến vị trí ô thoáng để kiểm tra bên trong 02 hộp catton thì thấy: trong 01 hộp có 01 mặt đồng hồ thông minh nhãn hiệu Apple Watch Series 8, 01 sạc không dây; trong 01 hộp còn lại có 01 mặt đồng hồ thông minh nhãn hiệu Apple Watch series 8; 01 sạc đồng hồ không dây và 01 dây đeo đồng hồ. L xé nhỏ vỏ hộp rồi vứt mảnh vụn xuống đáy xô sơn, lấy 01 sạc không dây đã giấu trước đó vào ngày 29/8/2022 ra rồi đậy vải lên che giấu các mảnh vụn. Sau đó, L dùng 01 mảnh vải vụn có sẵn trong xô sơn gần đó gói 02 mặt đồng hồ, 01 dây đeo, 03 sạc không dây vào trong, buộc kín các đầu rồi ném qua ô thoáng xuống bãi cỏ. Khi đi ăn cơm trưa, L xuống bãi cỏ tìm tài sản trộm cắp được đã ném xuống trước đó và giấu vào cốp xe mô tô biển kiểm soát 12X1-055.57 và vào ăn cơm, quay lại xưởng làm việc bình thường. Sáng ngày 03/9/2022, L một mình điều khiển xe mô tô đến cửa hàng điện thoại của anh H để bán mặt đồng hồ nhưng anh H nghỉ, đóng cửa hàng. L tiếp tục đến một cửa hàng điện thoại ở thôn C, xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang do anh Nguyễn Tiến C - sinh năm 1996, trú tại thôn Đ, xã S, huyện T, tỉnh Bắc Giang làm chủ, bán cho anh C 01 mặt đồng hồ với giá 700.000 đồng và anh C đồng ý, đưa tiền cho L, L để lại đồng hồ và đi về. Khoảng 16 giờ ngày 04/9/2022, L dùng số thuê bao 0352.593.314 liên hệ với anh H hỏi bán mặt đồng hồ thông minh, anh H đồng ý, L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 12X1-055.57 đi cùng anh Lâm Văn C- sinh năm 1992, trú tại thôn L, xã V, huyện C, tỉnh Lạng Sơn đến gặp anh H, hỏi vay anh H 800.000 đồng để đi mua lại mặt đồng hồ đã bán cho anh C hôm trước rồi đem về bán lại cho anh H, anh H đồng ý, đưa cho L 800.000 đồng. L đến gặp anh C, hỏi mua lại của anh C mặt đồng hồ bán ngày 03/9/2022 với giá 750.000 đồng, anh C đồng ý, nhận tiền và đưa lại mặt đồng hồ cho L. L đem 01 mặt đồng hồ đến bán cho anh H với giá 3.200.000 đồng, anh H đồng ý, đưa cho L số tiền 3.200.000 đồng và trả lại L 01 mặt đồng hồ mang đến nhờ anh H kiểm tra vào ngày 28/8/2022 do không khởi động được. Khoảng 07 giờ ngày 05/9/2022, L tiếp tục đem 01 mặt đồng hồ kèm, 01 sạc đồng hồ không dây đến bán cho anh H với giá 3.700.000 đồng và anh H đồng ý mua, đưa cho L số tiền 2.900.000 đồng (do anh H trừ 800.000 đồng cho L vay hôm trước). Sau khi mua mặt đồng hồ của L, anh H đã gửi 01 mặt đồng hồ thông minh qua đường bưu điện cho anh Nguyễn Mạnh T- sinh năm 1998, trú tại khu N, xã V, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ, nhờ anh T kiểm tra, giữ hộ, khi nào cần anh H sẽ lấy sau.

Kết quả điều tra xác định, trong 03 ngày 27/8/2022, ngày 29/8/2022 và ngày 31/8/2022, L đã trộm cắp của Công ty 07 mặt đồng hồ thông minh nhãn hiệu Apple Watch Series 8; 03 sạc không dây; 01 dây đeo đồng hồ; 03 vỏ hộp catton đựng đồng hồ kèm phụ kiện. Sau đó, L đã xé bỏ 03 vỏ hộp bán cho anh H 03 mặt đồng hồ; 01 sạc không dây với tổng số tiền là 10.400.000 đồng. Còn 04 mặt đồng hồ, 02 sạc đồng hồ không dây và 01 dây đeo đồng hồ, L vẫn giữ trong cốp xe chưa bán.

Về phía công ty, ngày 04/9/2022, Công ty L tiến hành kiểm đếm, phát hiện thấy bị thiếu hụt mặt đồng hồ thông minh, sạc không dây và dây đeo nên đã tiến hành kiểm tra Camera giám sát, phát hiện Trương Văn L có biểu hiện nghi vấn trộm cắp tài sản nên ngày 05/9/2022, công ty đã mời L đến văn phòng của Công ty để làm việc. Tại đây, do ban đầu L không thừa nhận hành vi lấy trộm tài sản, định bỏ chạy khỏi Công ty nên anh Đỗ Đình T- sinh năm 1998, trú tại thôn P, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa; nơi ở: thôn Đ, xã Q, huyện V, tỉnh Bắc Giang; anh Trần Văn Q- sinh năm 1997, trú tại thôn L, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nơi ở: thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Bắc Giang và anh Triệu Đức C- sinh năm 1998, trú tại thôn T, xã Q, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; nơi ở tổ dân phố M, thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang đều là nhân viên bảo an của Công ty L đã dùng gậy, tay chân không vụt, đấm, đá L nhiều cái vào tay, đùi, lưng, cụ thể: anh T dùng tay, chân không đấm, đá, dùng 01 gậy nhựa màu trắng hình trụ tròn rỗng, đường kính 03cm, dài 1,2mét lấy tại văn phòng vụt nhiều nhát vào đùi, người L; Q, C dùng tay, chân không đấm, đá nhiều cái vào tay, đùi, lưng của L. Biết hành vi trộm cắp tài sản bị phát hiện, L đã thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản của mình. L đã đưa cho Công ty số tiền 3.700.000 đồng để đến cửa hàng của anh H chuộc lại 01 mặt đồng hồ thông minh, 01 sạc không dây và khai nhận vẫn giấu 04 mặt đồng hồ thông minh, 02 dây sạc và 01 dây đeo trong cốp xe mô tô. Công ty đã thu giữ được các tài sản L cất giấu trong cốp xe. Do L bị đánh gây thương tích nên đã đến Trung tâm y tế huyện Việt Yên điều trị từ ngày 05/9/2022 đến ngày 07/9/2022 ra viện.

Ngày 06/9/2022, Công ty L đã ủy quyền cho anh Hoàng Đình L- sinh năm 1988, trú tại thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang đến Đồn Công an Q, huyện V trình báo, giao nộp gồm: 05 nhãn hiệu Apple Watch Series 8; 01 dây đeo đồng hồ và 03 sạc đồng hồ không dây phục vụ điều tra. Đồn Công an Q đã bàn giao hồ sơ vụ việc cho Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện V giải quyết theo thẩm quyền. Ngày 07/9/2022, L đã đến Công an huyện V đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội của mình. Ngày 14/9/2022, L giao nộp 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển kiểm soát 12X1- 055.57; anh T giao nộp 01 gậy dùng để đánh L.

Ngày 07/9/2022, anh H tự nguyện giao nộp: 01 nhãn hiệu Apple Watch Series 8 do L mang đến bán. Cùng ngày, anh Nguyễn Mạnh T cũng đã tự nguyện giao nộp 01 nhãn hiệu Apple Watch Series 8 do anh H gửi anh trước đó.

Ngày 12/9/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Việt Yên định giá, xác định giá trị tài sản bị trộm cắp.

Tại Kết luận định giá tài sản số 130/KL-HĐĐGTS ngày 15/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Việt Yên kết luận:

- 01 Mặt đồng hồ thông minh nhãn hiệu Apple Watch Series 8 (hàng nhập khẩu) có giá trị 4.609.000 đồng.

- 07 Mặt đồng hồ thông minh nhãn hiệu Apple Watch Series 8 (hàng nhập khẩu) giá trị 32.263.000 đồng.

- 01 Sạc không dây dùng cho đồng hồ thông minh nhãn hiệu Apple Watch Series 8 (hàng nhập khẩu) giá trị 271.000 đồng.

- 03 Sạc không dây dùng cho đồng hồ thông minh nhãn hiệu Apple Watch Series 8 (hàng nhập khẩu) có giá trị 813.000 đồng.

- 01 Bộ dây đeo đồng hồ thông minh nhãn hiệu Apple Watch Series 8 (hàng nhập khẩu) có giá trị 185.000 đồng.

- 01 Hộp đựng đồng hồ thông minh nhãn hiệu Apple Watch Series 8 (hàng nhập khẩu) có giá trị 10.000 đồng.

- 03 Hộp đựng đồng hồ thông minh nhãn hiệu Apple Watch Series 8 (hàng nhập khẩu) có giá trị 30.000 đồng.

Cơ quan điều tra đã tiến hành khám nghiệm hiện trường: Hiện trường nơi xảy ra sự việc được xác định tại Công ty L thuộc khu công nghiệp Q, xã Q, huyện V, tỉnh Bắc Giang; phía Bắc là Công ty Samwang, phía Nam là mương nước và thôn Núi Hiểu, phía Đông là đường đi của khu công nghiệp, phía Tây là đường đi của khu công nghiệp và bãi đất trống. Nơi xảy ra sự việc là tại xưởng B1, được thiết kế gồm 05 tầng. Kiểm tra tại tầng 2 thấy có 04 cửa ra vào khu sản xuất ở 4 góc Tây Bắc, Đông Bắc, Tây Nam và Đông Nam, gồm các chuyền Paok được đánh số từ Line 19 đến Line 35 hướng từ Bắc sang Nam, mỗi chuyền cách nhau 01 mét. Xem xét tại chuyền L21 tại vị trí cách đầu chuyền về phía Tây 20m và cách đất 76cm có 01 khay nhựa màu trắng đặt trên mặt bàn có kích thước (20x30)cm, đây là vị trí để tài sản bị trộm cắp. Xem xét tại tầng 3 thấy có 04 cửa ra vào khu sản xuất ở 4 góc Tây Bắc, Đông Bắc, Tây Nam và Đông Nam, gồm các chuyển Maine B1-3F-LG; Maine B1-3F-L9L; Maine B1-3F-L10S; FCM B1-3F-L6S; FCM Line L7L hướng từ Bắc sang Nam. Tại vị trí cách tường phía Tây 4,2m và cách cửa phía Bắc 30m có 01 bàn hình chữ nhật màu xanh, trên bàn có 01 khay nhựa màu đen, trên khay là xốp, kích thước (43x30x95)cm, đây là vị trí để tài sản trộm cắp. Xem xét tại tầng 5, tại vị trí trên tường phía Tây, cách đất 0,1m có 04 ô cửa hướng xuống bãi cỏ phía dưới. Cửa số 4 có kích thước (1,3x0,82)m, làm bằng khung kim loại, mặt kính mở hướng từ trong ra ngoài, từ dưới lên trên. Đây là vị trí L mở cửa ném tài sản ra ngoài. Mở rộng hiện trường, tại vị trí cách xưởng B1 về phía Tây 10,5m và cách cổng số 3 là 04m trên bãi cỏ là vị trí đối tượng ném tài sản xuống.

Ngày 07/9/2022, Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra điện thoại của anh H, phát hiện anh H có lưu số điện thoại 0352593314 của L dưới tên “Luu cắm máy”, tại lịch sử cuộc gọi thể hiện vào hồi 16 giờ 20 phút ngày 04/9/2022 có cuộc gọi giữa L và anh H, nội dung L khai để trao đổi về việc mua bán điện thoại.

Tại bản cáo trạng số 247/CT-VKS ngày 22/11/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện V đã truy tố Trương Văn L ra trước Toà án nhân dân huyện Việt Yên để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà: Bị cáo Trương Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Viện kiểm sát truy tố bị cáo là không oan, bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình là sai, bị cáo rất hối hận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa. Hội đồng xét xử công bố lời khai của họ. Bị cáo không có ý kiến gì về những lời khai đó.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Trương Văn L từ 01 năm 05 tháng tù đến 01 năm 08 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 07/9/2022.

Do bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không cần áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự

Tịch thu tiêu hủy: 01 gậy nhựa màu trắng được niêm phong

Trả lại anh Trương Văn Huynh: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu sơn trắng đen, BKS 12X1- 055.57

Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Việt Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên, Kiểm sát viên trong quá trình Điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình Điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên đều hợp pháp.

Tại phiên toà hôm nay bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt tại phiên toà nhưng đã có lời khai tại Cơ quan điều tra. Việc vắng mặt bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không ảnh hưởng đến việc xét xử cho nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình gây ra. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Trong các ngày 27/8/2022, ngày 29/8/2022 và ngày 31/8/2022, tại tầng 2, tầng 3 của xưởng B1 của Công ty TNHH L ICT, thuộc khu công nghiệp Q, Trương Văn L đã thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản có tổng giá trị 33.291.000 đồng của Công ty L, cụ thể:

- Vụ thứ nhất: Khoảng 11 giờ ngày 27/8/2022, tại tầng 3, xưởng B1 của Công ty L; Trương Văn L đã có hành vi trộm cắp 04 mặt đồng hồ thông minh nhãn hiệu Apple Watch Series 8 có giá trị là 18.436.000 đồng.

- Vụ thứ hai: Khoảng 12 giờ ngày 29/8/2022, tại tầng 2 của xưởng B1 của Công ty Luxshare; Trương Văn L đã có hành vi trộm cắp có tổng giá trị 4.890.000 đồng gồm: 01 mặt đồng hồ thông minh nhãn hiệu Apple Watch Series 8 có giá trị là 4.609.000 đồng; 01 sạc không dây dùng cho đồng hồ thông minh nhãn hiệu Apple Watch Series 8 có giá trị 271.000 đồng và 01 vỏ hộp đựng đồng hồ thông minh nhãn hiệu Apple Watch Series 8 có giá trị 10.000 đồng.

- Vụ thứ ba: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 31/8/2022, tại tầng 2, xưởng B1 của Công ty L; Trương Văn L đã có hành vi trộm cắp có tổng giá trị 9.965.000 đồng gồm: 02 mặt đồng hồ thông minh nhãn hiệu Apple Watch Series 8 có giá trị là 9.218.000 đồng; 01 dây đeo đồng hồ thông minh nhãn hiệu Apple Watch Series 8 có giá trị 185.000 đồng; 02 sạc không dây dùng cho đồng hồ thông minh nhãn hiệu Apple Watch Series 8 có giá trị 542.000 đồng; 02 vỏ hộp đựng đồng hồ thông minh nhãn hiệu Apple Watch Series 8 có giá trị 20.000 đồng.

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của công ty, lén lút trộm cắp tài sản trị giá 33.291.000 đồng. Như vậy hành vi của bị cáo Trương Văn L đã cấu thành tội "Trộm cắp tài sản". Do đó, cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên truy tố bị cáo về tội“ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS là hoàn toàn có căn cứ.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, làm mất trật tự trị an xã hội tại địa phương. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân, tiền án, tiền sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa bị xử lý vi phạm pháp luật lần nào.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trương Văn L trộm cắp tài sản 03 lần, giá trị tài sản mỗi lần đều đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội hai lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã đầu thú; tự nguyện nộp lại công ty số tiền bán 01 mặt đồng hồ thông minh để công ty chuộc lại tài sản và được bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội tự nguyện khắc phục hậu quả”, “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” và “Đầu thú” quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, tuy nhiên bị cáo trộm cắp tài sản nhiều lần (03 lần), mỗi lần đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Do vậy cần áp dụng một hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Xét về mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị, Hội đồng xét xử thấy là phù hợp với hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.

Về hình phạt bổ sung: bị cáo hiện không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Ngày 17/9/2022, Cơ quan điều tra đã trả lại Công ty gồm: 07 mặt đồng hồ thông minh, 01 dây đeo và 03 sạc không dây do L trộm cắp. Anh L đại diện công ty nhận lại tài sản, không yêu cầu L phải bồi thường gì khác và đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho L. Anh H không đề nghị L phải trả số tiền đã bỏ ra để mua 03 mặt đồng hồ thông minh. Do vậy về trách nhiệm dân sự hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đối với xe mô tô L sử dụng để cất giấu tài sản trộm cắp là tài sản hợp pháp của anh Trương Văn H1- sinh năm 1990 (em ruột L). Anh H1 cho L mượn xe mô tô nhưng không biết L sử dụng vào việc trộm cắp tài sản. Do vậy cần trả lại anh Trương Văn H1 chiếc xe mô tô này.

Đối với điện thoại di động L sử dụng liên lạc với anh H nhằm bán tài sản trộm cắp được, L khai đã làm rơi, không nhớ rơi ở đâu nên không thu hồi được. Đối với các mảnh vải L dùng để cuộn mặt đồng hồ, dây đeo, sạc không dây, sau khi mang được tài sản ra khỏi công ty, L khai đã tháo các mảnh vải vứt đi, không nhớ vứt ở đâu nên không thu hồi được. Đây là vải Công ty bỏ đi, không có giá trị nên Công ty không đề nghị xử lý hình sự, yêu cầu bồi thường dân sự đối với việc L lấy các mảnh vải này. Do vậy hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với chiếc gậy nhựa màu trắng anh T dùng để đánh L, đây là tài sản của Công ty. Công ty không nhận lại, gậy có giá trị nhỏ cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với việc L bị các anh T, Q, C là nhân viên bảo an của Công ty đánh gây thương tích. Cơ quan điều tra đã trưng cầu Trung tâm pháp y- Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang giám định thương tích của L. Tại Kết luận giám định số 984/22/TgT ngày 04/10/2022 của Trung tâm pháp y- Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang kết luận: tổng tỷ lệ thương tích của L là 4%. Đến nay, L tự nguyện không đề nghị xử lý hình sự đối với anh Q, anh C, anh T, không đề nghị các anh phải bồi thường dân sự. Do đó, Công an huyện Việt Yên đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 137, 138, 139 cùng ngày 04/11/2022, xử phạt Đỗ Đình T, Trần Văn Q, Triệu Đức C mỗi người 6.500.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích cho người” theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 là có căn cứ.

Quá trình điều tra, bị cáo L khai khi mang mặt đồng hồ thông minh đến bán cho anh H ngày 28/8/2022, L có nói với anh H là tài sản do trộm cắp mà có. Cơ quan điều tra đã lấy lời khai anh H, anh H không thừa nhận, anh H khai khi hỏi nguồn gốc đồng hồ thông minh thì L nói là của L. Quá trình anh H, L giao dịch chỉ có anh H và L, không có ai chứng kiến, không viết giấy tờ gì. Cơ quan điều tra tiến hành cho anh H, L đối chất nhưng các bên đều từ chối đối chất. Ngoài lời khai của bị cáo L ra, không có tài liệu, chứng cứ nào khác thể hiện anh Huy có hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ xem xét xử lý đối với anh H. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với anh C là người mua mặt đồng hồ thông minh của L ngày 03/9/2022, quá trình điều tra xác định anh C không biết tài sản do phạm tội mà có nên không vi phạm pháp luật.

Đối với anh C1 là người đi cùng L đến mua lại mặt đồng hồ thông minh của anh C, bán lại cho anh H, C1 không biết L trộm cắp tài sản, không được hưởng lợi gì nên không có hành vi vi phạm pháp luật.

Đối với anh T là người được anh H gửi nhờ mặt đồng hồ để kiểm tra, anh T không được hưởng lợi gì, không biết tài sản do phạm tội mà có nên không vi phạm pháp luật.

Bị cáo hiện đang tạm giam để đảm bảo việc thi hành án, cần tiếp tục tạm giam bị cáo theo Điều 329 BLTTHS.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật là có căn cứ.

Ngoài ra, cần áp dụng Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự để tuyên quyền kháng cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Trương Văn L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 07/9/2022.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 gậy nhựa màu trắng được niêm phong

Trả lại anh Trương Văn H: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu sơn trắng đen, BKS 12X1- 055.57.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/NQ – UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 332, 333 BLTTHS 2015

Báo cho bị cáo có mặt biết quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt biết quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.

Cỡ chữ