- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ Viết D và các bị cáo khác - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của b cáo Hồ Viết D; chấp nhận một phần kháng cáo của các cáo Hồ Văn L, Phan Thanh D1, Hoàng Minh H; chấp nhận một phần kháng cáo của đại diện b hại; không chấp nhận kháng ngh của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng; sửa một phần Bản án hình sự sơ…
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 123 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 233/2020/HSPT Ngày: 18/9/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Trường
Các thẩm phán:
Ông Nguyễn Thanh Long
Ông Lê Phước Thanh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Nhật, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Đặng Thọ Định, Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 200/2020/TLPT-HS ngày 17 tháng 6 năm 2020 đối với cáo Hồ Viết D và các cáo khác về các tội “Giết người”, “Cố ý gây thương tích” và “Gây rối trật tự công cộng”; do có kháng ngh của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đối với các cáo Nguyễn Tuấn A, Phạm Quốc B; kháng cáo của các b cáo Hồ Viết D, Hồ Văn L, Hoàng Minh H, Phan Thanh D1 và kháng cáo của đại diện hợp pháp của người b hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2020/HS-ST ngày 13/5/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình.
- Bị cáo bị kháng nghị, có kháng cáo:
1. Hồ Viết D, tên gọi khác: Cún, sinh ngày 10 tháng 9 năm 1997 tại xã H, huyện B, tỉnh Quảng Bình; cư trú tại: Thôn T, xã H (trước đây là xã H), huyện B, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 8/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc t ch: Việt Nam; con ông Hồ D1 và à Hoàng Th T; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 22 tháng 01 năm 2018, Công an xã DD xử phạt hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” với số tiền 1.500.000 đồng, đã thi hành; bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06 tháng 02 năm 2019 sau đó tạm giam, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Bình (có mặt).
2. Nguyễn Tuấn A, tên gọi khác: Đ, sinh ngày 06 tháng 6 năm 1997 tại xã H, huyện B, tỉnh Quảng Bình; cư trú tại: Thôn N, xã H (trước đây là xã H), huyện B, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Đánh cá iển; trình độ văn hoá: Lớp 4/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc t ch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B và à Phạm Th H (đã chết); vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không; bắt tạm giữ ngày 06 tháng 02 năm 2019 sau đó tạm giam đến ngày 02 tháng 10 năm 2019 được thay thế ngăn chặn bằng bảo lãnh, hiện đang tại ngoại theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình (có mặt).
3. Phạm Quốc B, tên gọi khác: L, sinh ngày 12 tháng 5 năm 1987 tại xã H, huyện B, tỉnh Quảng Bình; cư trú tại: Thôn T, xã H (trước đây là xã H), huyện B, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 3/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc t ch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Q và à Nguyễn Th C; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 78/2015/HSPT ngày 28 tháng 7 năm 2015 của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình xử phạt 15 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thi hành án tại Trại giam Đ, Tổng cục VIII Bộ Công an, ra Trại ngày 05 tháng 5 năm 2016; bắt tạm giữ ngày 06 tháng 02 năm 2019 sau đó tạm giam, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Bình (có mặt).
4. Hồ Văn L, tên gọi khác: Bu L, sinh ngày 26 tháng 5 năm 1995 tại xã H, huyện B, tỉnh Quảng Bình; cư trú tại: Thôn T, xã H (trước đây là xã H), huyện B, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc t ch: Việt Nam; con ông Hồ Văn H và à Nguyễn Th M; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không; tạm giam ngày 26 tháng 3 năm 2019 đến ngày 02 tháng 10 năm 2019 được thay thế biện pháp ngăn chặn sang Bảo Lĩnh; hiện đang tại ngoại theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình (có mặt).
5. Hoàng Minh H, tên gọi khác: Luồi, sinh ngày 18 tháng 4 năm 1995 tại xã H, huyện B, tỉnh Quảng Bình; cư trú tại: Thôn T, xã H (trước đây là xã H), huyện B, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá: Lớp 8/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc t ch: Việt Nam; con ông Hoàng Minh H và à Hồ Th Đ; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không; tạm giam từ ngày 26 tháng 3 năm 2019 đến ngày 02 tháng 10 năm 2019 được thay thế biện pháp ngăn chặn sang Bảo Lĩnh; hiện đang tại ngoại theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình (có mặt).
6. Phan Thanh D1, tên gọi khác: L, sinh ngày 28 tháng 10 năm 1995 tại xã H, huyện B, tỉnh Quảng Bình; cư trú tại: Thôn T, xã H (trước đây là xã H), huyện B, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 8/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc t ch: Việt Nam; con ông Phan Thanh H và à Hoàng Th L; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không; tạm giam ngày 26 tháng 3 năm 2019 đến ngày 02 tháng 10 năm 2019 được thay thế biện pháp ngăn chặn sang Bảo Lĩnh; hiện đang tại ngoại theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình (có mặt).
Ngoài ra còn có 09 bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị”.
- Người bào chữa cho bị cáo Hồ Viết D: Luật sư Trương Văn B, Văn phòng Luật sư C thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Quảng Bình. Đ a chỉ trụ sở: tỉnh Quảng Bình (có mặt).
- Người bào chữa cho các bị cáo Hoàng Minh H, Hồ Văn L, Phan Thanh D1: Luật sư Lê Hồng S, Công ty Luật TNHH một thành viên X Chi nhánh tỉnh Thừa Thiên Huế thuộc Đoàn Luật sư thành phố Đà Nẵng. Đ a chỉ trụ sở: tỉnh Thừa Thiên Huế (có mặt).
- Người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của người bị hại: Ch Phạm Th Mỹ H, sinh năm 1986; trú tại: Thôn N, xã H, (trước đây là xã H), huyện B, tỉnh Quảng Bình (có mặt, nhưng tự ý bỏ về).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tối ngày 04 tháng 02 năm 2019 (nhằm ngày 30 tết nguyên đán Kỷ Hợi) nhiều thanh niên ở các thôn thuộc xã H (trước đây là xã H), huyện B, tỉnh Quảng Bình dựng rạp tại các đ a điểm công cộng trong xã tổ chức ăn uống tất niên cuối năm. Khoảng 22 giờ cùng ngày, Hồ Viết D và Phạm Quốc B ở rạp thôn T mang 1 thùng ia đến rạp của thôn T để uống ia giao lưu. Trong lúc Phạm Văn H1 (tên gọi khác là Đ) ở thôn N khoác vai Phạm Quốc B cùng nhảy múa và có chạm tay vào đầu Phạm Quốc B nên B cho rằng H1 đã xoa đầu, xúc phạm mình nên B đánh H1 một tát vào mặt và nói: “Tau từ nhỏ đến lớn không có ai dám xoa đầu tau”. Thấy B xông vào đ nh đánh tiếp thì được Lê Văn T đứng gần đó can ngăn, thấy B đánh nhau, Hồ Viết D xông đến thì nhiều thanh niên của thôn T và thôn N đang ở trong rạp xông vào đánh Phạm Quốc B và Hồ Viết D làm D b thương ở ngực trái và ên trái môi dưới. Phạm Quốc B và Hồ Viết D chạy về rạp của nhóm thanh niên thôn N dựng ở sân vận động xã H thông áo mình đánh ở rạp T và ảo mọi người đi đánh trả thù, nhiều người đã đồng ý, trong đó có: Hồ Văn L1, Hoàng Duy C, Phạm Hữu N, Hồ Văn N1 đều ở thôn N; Hồ Quang H, Đặng Gia T2; Phạm Văn D, Nguyễn Tuấn A, Nguyễn V đều ở thôn N. Phạm Quốc B điện thoại cho Hồ Văn L ở thôn T, nói: “A đi chơi bọn T đánh, gọi anh em đến sân vận động để đi đánh lại”. Hồ Văn L nói với số thanh niên ở rạp thôn T về việc Phạm Quốc B yêu cầu đến sân vận động N chuẩn b để đến rạp T. Nhiều người nghe và đi cùng L, trong đó có: Nguyễn T, Phan Thanh D1, Hoàng Minh H, Lê Văn H, Lê Hồng Q, Hoàng Quốc T, Hồ Văn Toàn, Lê Thanh K, Nguyễn Văn L, đến rạp thôn N ở sân vận động để chuẩn b đến rạp T. Phạm Quốc B nói, số người ở rạp T rất đông, cần tìm hung khí mang đi. Nguyễn Tuấn A, cầm theo 01 cái cưa xếp, Hồ Viết D cầm theo 01 cái kéo cán màu đỏ, Hồ Văn L cầm 01 ình x t hơi cay của Hồ Văn H đưa. Trên đường đi, Phạm Quốc B vào nhà à Võ Th Hiền ở thôn N lấy 01 con dao bản rộng khoảng 5cm, mũi không nhọn, bằng kim loại màu sáng; Hồ Văn L1 vào quán à Phạm Th T, ở thôn N lấy 02 cái kéo cán màu đỏ, rồi giao cho Hồ Văn L 01 cái; Phạm Văn D cầm gậy gỗ, Phan Thanh D1, Hoàng Minh H, Nguyễn V, Đặng Gia T2, mỗi người cầm 02 hòn đá; Nguyễn Tuấn, Hồ Quang H, Hoàng Duy C, Phạm Hữu N, Hồ Văn N1, mỗi người cầm 01 hòn đá; các thanh niên khác tự tìm đá, chai thủy tinh, gậy gộc mang theo. Khoảng 22 giờ 30 phút, các thanh niên của thôn T và thôn N đi bộ từ rạp của thôn N đến rạp thôn T (cách 680m) trên đường đi chia thành hai nhóm gồm:
Nhóm thứ nhất có Hồ Văn L1, Hồ Văn L, Hoàng Duy C, Phạm Hữu N, Hồ Văn N1, Hồ Quang H, Phạm Văn D, Nguyễn Tuấn A, Nguyễn V, đi trước theo đường liên thôn đến trước cổng Trường Mầm non xã H.
Nhóm thứ hai có: Hồ Viết D, Đặng Gia T2, Hoàng Minh H, Phan Thanh D1, Nguyễn T, Phạm Quốc B, Hoàng Quốc T, Lê Văn H, Lê Hồng Q, Hồ Văn T, Lê Thanh K, Nguyễn Văn L đi theo đường hẻm ra đường liên thôn gặp nhóm thứ nhất đang đứng trước cổng Trường Mầm non H.
Cả hai nhóm đi đến gần rạp tất niên thôn T, khi nghe Phạm Quốc B hô “Xông lên, đập bọn T”, liền hò hét, chửi bới, ném đá, ném đồ vật cầm theo vào những người đang chơi tất niên trong rạp thôn T.
A Trần Quốc T ở trong rạp của thôn T cầm gậy tre chạy ra cùng với Phạm Duy H1 và Phan Chí S đều ở thôn N, thì gặp Hồ Văn L1 và Nguyễn Tuấn A xông tới, Nguyễn Tuấn A cầm cưa (loại cưa gập), đã mở lưỡi cưa ra chặt một nhát theo hướng từ trên xuống dưới vào vùng đầu anh Trần Quốc T, anh T dùng gậy tre đánh lại vào đầu Nguyễn Tuấn A, Nguyễn Tuấn A tiếp tục cầm cưa ằng tay phải chặt nhát thứ hai theo hướng từ trên xuống trúng vào vai của Trần Quốc T, anh T dùng gậy đánh Hồ Văn L1 và Nguyễn Tuấn A. Nguyễn V ném đá và cầm gậy gỗ xông vào Trần Quốc T, sau đó thì cả nhóm ỏ chạy.
Hồ Viết D từ đường liên thôn xông vào phía Tây Bắc góc sân rạp T, tay phải lấy kéo cán màu đỏ dài 22,5 cm, trong túi quần phải, chuyển kéo qua cầm tay trái, khi thấy Trần Quốc T cầm gậy xông ra thì Hồ Viết D lùi lại 01 ước, Trần Quốc T chuyển sang hướng trái (theo hướng của T), thấy Phạm Duy H1 đang đứng ên phải Trần Quốc T thì Hồ Viết D xông tới dùng tay phải ôm vít đầu Phạm Duy H1 xuống chạm vào hỏm ngực của D rồi dùng tay trái cầm kéo giơ cao đâm nhiều nhát theo hướng từ trên xuống, từ sau ra trước, từ trái sang phải, trong đó có 4 nhát trúng vào vùng ả vai trái, vai phải và khuỷu tay phải của Phạm Duy H1. Thấy có nhiều người trong rạp T rượt đuổi, nên Hồ Viết D xô Phạm Duy H1 ra rồi bỏ chạy. A Phạm Duy H1 chạy đến gần cổng Trường Mầm non thì gục xuống lề đường. Hoàng Minh H, Lê Hồng Q, Phan Chí S, Phạm Văn H1, Phan Quang H nhìn thấy Hồ Viết D là người duy nhất ôm đánh anh Phạm Duy H1.
Đặng Gia T2 ném đá vào trong rạp và dùng tay đấm vào mặt một người từ trong rạp T xông ra; Hoàng Minh H, Phan Thanh D1, Hồ Văn L, Phạm Hữu N, Hồ Văn N1, ném đá vào trong rạp T; Nguyễn Tuấn, Hồ Quang H, Phạm Văn D, Hoàng Duy C cầm đá, gậy, nhưng chưa sử dụng.
Tại bản kết luận giám đ nh pháp y về tử thi số 01/TT ngày 15/3/2019 của Trung tâm Giám đ nh Y khoa – Pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh Quảng Bình kết luận nguyên nhân chết của Phạm Duy H1: Suy tuần hoàn cấp do vết thương trên ả vai trái xuyên thủng phổi trái và thủng quai động mạch chủ.
Tại bản kết luận giám đ nh pháp y về thương tích số 23/TgT ngày 15/3/2019 của Trung tâm Giám đ nh Y khoa – Pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh Quảng Bình kết luận về thương tích Trần Quốc T: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 12%.
Tại B n n hình sự s thẩm số 11/2020/HS-ST ngày 13/5/2020, Tòa n nhân dân tỉnh Qu ng Bình quyết ịnh:
- Tuyên ố: B cáo Hồ Viết D phạm tội “Giết người”.
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; các điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với b cáo Hồ Viết D, xử phạt b cáo Hồ Viết D 15 (mười lăm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày cáo bắt tạm giữ ngày 06 tháng 02 năm 2019, sau đó tạm giam;
- Tuyên ố: B cáo Nguyễn Tuấn A phạm tội “Cố ý gây thương tích”;
Áp dụng điểm đ khoản 2 theo điểm a khoản 1 Điều 134, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với b cáo Nguyễn Tuấn A, xử phạt b cáo Nguyễn Tuấn A 27 (hai mươi ảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày ắt giam thi hành án, được khấu trừ thời gian b cáo đã bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06 tháng 02 năm 2019 đến ngày 02 tháng 10 năm 2019.
- Tuyên ố: Các cáo Phạm Quốc B, Hồ Văn L, Hoàng Minh H, Phan Thanh D1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với các cáo Hồ Văn L, Hoàng Minh H, Phan Thanh D1, áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với các cáo Phạm Quốc B, Hồ Văn L, Phan Thanh D1;
Xử phạt b cáo Phạm Quốc B 30 ( a mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày b cáo bắt tạm giữ 06 tháng 02 năm 2019, sau đó tạm giam.
Xử phạt b cáo Hồ Văn L 27 (hai mươi ảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án, được khấu trừ thời gian b cáo đã bắt tạm giam từ ngày 26 tháng 3 năm 2019 đến ngày 02 tháng 10 năm 2019.
Xử phạt b cáo Hoàng Minh H 24 (hai mươi ốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày ắt giam thi hành án, được khấu trừ thời gian b cáo đã bắt tạm giam từ ngày 26 tháng 3 năm 2019 đến ngày 02 tháng 10 năm 2019.
Xử phạt b cáo Phan Thanh D1 25 (hai mươi lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày ắt giam thi hành án, được khấu trừ thời gian b cáo đã bắt tạm giam từ ngày 26 tháng 3 năm 2019 đến ngày 02 tháng 10 năm 2019.
Bản án sơ thẩm còn tuyên phạt 09 b cáo khác mức án từ 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo đến 27 tháng tù cùng về “Gây rối trật tự công cộng”, quyết đ nh về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí, tuyên quyền kháng cáo theo quy đ nh của pháp luật.
Ngày 20/5/2020, các cáo Hồ Văn L, Phan Thanh D1, Hoàng Minh H cùng kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo.
Ngày 21/5/2020, cáo Hồ Viết D kháng cáo toàn ộ bản án sơ thẩm và xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 26/5/2020, đại diện hợp pháp của người b hại kháng cáo đề ngh xem xét xử lý trách nhiệm hình sự đối với Hồ Viết D về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b, d khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự, tăng mức hình phạt về tội “Giết người”; chấp nhận một phần chi phí ma chay mà thực tế gia đình thực hiện theo phong tục tập quán đ a phương; nâng mức bồi thường tổn thất tinh thần cho cha mẹ b hại bằng 100 tháng lương cơ sở là 149 triệu đồng.
Ngày 09/6/2020, Viện kiểm sát nhân cấp cao tại Đà Nẵng an hành Quyết đ nh kháng ngh phúc thẩm số 17/QĐ-VC2, đề ngh Tòa án cấp phúc thẩm hủy một phần bản án về phần hình phạt và tội phạm đối với Nguyễn Tuấn A và Phạm Quốc B tại Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2020/HSST ngày 13/5/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình để điều tra, truy tố, xét xử thêm về tội “Gây rối trật tự công cộng” đối với Nguyễn Tuấn A và tội “Cố ý gây thương tích” đối với b cáo Phạm Quốc B.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
B cáo Hồ Viết D vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; các cáo Hồ Văn L, Phan Thanh D1, Hoàng Minh H đều giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo. Người được ủy quyền đại diện hợp pháp của người b hại, à Phạm Th Mỹ H vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự thêm tội “Gây rối trật tự công cộng”; tăng hình phạt tội “Giết người” đối với b cáo Hồ Viết D; chấp nhận một phần chi phí ma chay mà thực tế gia đình thực hiện theo phong tục tập quán đ a phương; nâng mức bồi thường tổn thất tinh thần cho cha mẹ b hại bằng 100 tháng lương cơ sở là 149 triệu đồng. Tuy nhiên, à yêu cầu hoãn phiên tòa để nhờ luật sư ảo vệ quyền lợi cho à, trong lúc Hội đồng xét xử vào phòng ngh án thảo luận thì à H đã tự ý ỏ ra về.
Đại diện Viện kiểm sát nhân cấp cao tại Đà Nẵng giữ nguyên Quyết đ nh kháng ngh phúc thẩm số 17/QĐ-VC2, đề ngh Tòa án cấp phúc thẩm hủy một phần bản án về phần hình phạt và tội phạm đối với Nguyễn Tuấn A và Phạm Quốc B tại Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2020/HSST ngày 13/5/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình để điều tra, truy tố, xét xử thêm về tội “Gây rối trật tự công cộng” đối với Nguyễn Tuấn A và tội “Cố ý gây thương tích” đối với b cáo Phạm Quốc B. Bởi lẽ, b cáo Nguyễn Tuấn A và cáo Phạm Quốc B mang theo hung khí và có hành vi tham gia la hét, kích động nhiều người; b cáo A ngoài việc dùng cưa gây thương tích cho anh T 12% còn có hành vi la hét hô hào theo đồng phạm; b cáo B mang theo dao và hô “Xông lên đập T” gây kích động cho đồng phạm, nhưng cấp sơ thẩm chỉ truy cứu mỗi b cáo 01 tội là thiếu sót. Vì vậy, đề ngh Hội đồng xét xử chấp nhận kháng ngh của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng hủy phần liên quan đến b cáo B và A để truy cứu bổ sung trách nhiệm hình sự đối với 02 b cáo này.
Đối với các kháng cáo của cáo và đại diện hại, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng phát iểu quan điểm về vụ án cho rằng: Về tố tụng, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy đ nh của pháp luật, về nội dung, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ căn cứ xác đ nh Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các cáo là đúng người đúng tội. Tại phiên tòa hôm nay các cáo Hồ Văn L, Phan Thanh D1, Hoàng Minh H không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào mới nên không có cơ sở xem xét chấp nhận kháng cáo giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo. Riêng cáo Hồ Viết D, mặc dù sau khi xét xử sơ thẩm, gia đình cáo có ồi thường thêm cho người b hại 60.034.570 đồng, nhưng với mức án 15 năm tù về tội giết người là phù hợp, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo giảm nhẹ hình phạt. Đối với kháng cáo của người Đại diện hợp pháp của người b hại, đại diện Viện kiểm sát có ý kiến dù à H bỏ về, nhưng đề ngh Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo, xem xét uộc b cáo D tăng mức bồi thường tổn thất tinh thần cho người b hại 100 tháng lương cơ sở là 149.000.000 đồng là thỏa đáng. Riêng kháng cáo tăng mức hình phạt cho b cáo D về tội “Giết người”; truy cứu thêm tội “Gây rối trật tự công cộng”; ồi thường chi phí ma chay theo phong tục tập quán tại đ a phương là không có căn cứ, đề ngh không chấp nhận.
Luật sư Trương Văn B ào chữa cho b cáo Hồ Viết D, nêu quan điểm: Tại phiên tòa hôm nay, đại diện người b hại đã tự ý ỏ về, nên đề ngh Hội đồng xét xử xem xét đây là hành vi từ bỏ quyền kháng cáo nên không xét đến kháng cáo của họ. Đối với hành vi cáo D phạm tội trong lúc thanh niên T đánh trước nên xem xét tình tiết giảm nhẹ“phạm tội do bị kích động mạnh vì hành vi trái pháp luật của nạn nhân”; do vậy b cáo D b truy tố theo điểm n khoản 1 Điều 123 “Giết người có tính chất côn đồ” là không đúng, vì có nguyên nhân như đã phân tích ở trên. Từ đó đề ngh Hội đồng xét xử giảm nhẹ cho b cáo một phần hình phạt.
Luật sư Lê Hồng S ào chữa cho các cáo Hồ Văn L, Phan Thanh D1, Hoàng Minh H nêu quan điểm: Các cáo giữ vai trò thứ yếu, hành vi đi theo la hét chỉ a dua đám đông cho thỏa mãn thú vui, chứ không cố ý gây rối trật tự. Các b cáo chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng như quy đ nh tại Điểm 4 phần I Công văn số 01/2017/GĐ - TANDTC của Tòa án nhân dân Tối cao; gia đình chấp hành tốt pháp luật và có hoàn cảnh khó khăn được đ a phương xác nhận; có nơi cư trú rõ ràng. Từ đó đề ngh Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho các cáo được hưởng án treo theo quy đ nh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, đại diện ủy quyền theo đại diện b hại, à Phạm Th Mỹ H đề ngh Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa để à có thời gian nhờ luật sư ảo vệ quyền lợi cho à, Hội đồng xét xử thấy rằng việc yêu cầu hoãn phiên tòa để nhờ luật sư trong trường hợp này là không đúng quy đ nh, nên không chấp nhận yêu cầu của à và à H đã tự ý ỏ về. Xét thấy, trong vụ án này đại diện người b hại không kháng cáo, kháng ngh , nên kết quả xét xử phúc thẩm sẽ không làm xấu hơn tình trạng an đầu của họ, do vậy Hội đồng xét xử quyết đ nh tiếp tục tiến hành phiên tòa.
Xét nguyên nhân, hành vi, hậu quả, mức hình phạt của các cáo, thấy rằng: Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ giữa Phạm Văn H1 với Hồ Viết D và Phạm Quốc B, khi D, B đến rạp thôn T, H, B uống ia giao lưu cuối năm, mà D, B đã về rạp thôn T huy động bạn è 20 người mang theo hung khí như cưa, kéo, gậy, đá, ình x t hơi cay chia làm hai đường kéo đến rạp thôn T cách hơn 0,5km để tấn công nhiều người đang liên hoan tất niên trong rạp. Hậu quả anh Phạm Duy H1 (người thôn N) tử vong; anh Trần Quốc T (T) b thương tích 12%; làm náo loạn nhiều khu vực thôn xóm trong xã H. Với hành vi và hậu quả như trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các cáo ở 03 nhóm tội: B cáo Hồ Viết D b xử phạt 15 năm tù về tội “Giết người”; cáo Nguyễn Tuấn A b xử phạt 27 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; xử tội “Gây rối trật tự công cộng” đối với b cáo Phạm Quốc B 30 tháng tù; Hồ Văn N1, Hồ Quang H, Đặng Gia T2 và Hồ Văn L mỗi b cáo 27 tháng tù; Phan Thanh D1 25 tháng tù; Hồ Văn L1, Hoàng Duy C, Phạm Hữu N, Nguyễn V, Hoàng Minh H và Nguyễn Tuấn mỗi b cáo 24 tháng tù, riêng cáo Tuấn và C được hưởng án treo; Phạm Văn D 06 tháng tù. Không đồng ý với kết quả xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm, b cáo D kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; các cáo L, D1, H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo; đại diện người b hại kháng cáo tăng hình phạt tội “Giết người” và truy cứu thêm tội “Gây rối trật tự công cộng” đối với b cáo D, tăng mức bồi thường tinh thần cho gia đình hại lên 100 tháng lương tối thiểu, chấp nhận bồi thường ma chay theo phong tục; Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng kháng ngh hủy phần quyết đ nh đối với Nguyễn Tuấn A và Phạm Quốc B để truy cứu thêm tội “Gây rối trật tự công cộng” đối với Nguyễn Tuấn A và tội “Cố ý gây thương tích” đối với b cáo Phạm Quốc B.
Xét kháng cáo của b cáo Hồ Viết D, thì thấy: B cáo là người trực tiếp dùng hung khí là cái kéo có cán màu đỏ đâm anh Phạm Duy H1 04 nhát vào vùng bả vai trái, phải và khủy tay phải, đây là nguyên nhân dẫn đến người b hại tử vong; b cáo vô cớ giết chết anh H1. Vì vậy Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123 (giết người có tính chất côn đồ) có khung hình phạt từ tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 như ồi thường thiệt hại; thành khẩn khai áo, ăn năn hối cải, xử phạt b cáo 15 năm tù là phù hợp. Tại phiên tòa hôm nay, tuy gia đình cáo có xuất trình tình tiết mới là ồi thường thêm cho người b hại 60.000.000 đồng, nhưng đại diện b hại vẫn bức xúc trước cái chết của anh H1 và tiếp tục kháng cáo yêu cầu tăng nặng hình phạt và truy cứu thêm tội Gây rối trật tự công cộng. Do vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của b cáo và lời ào chữa của luật sư Trương Văn Bá; chấp nhận đề ngh của Kiểm sát viên, giữ nguyên hình phạt đối với b cáo D.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của b cáo Hồ Văn L, thấy rằng: B cáo L là người có vai trò thứ yếu, khi nghe b cáo D rủ rê, cáo cùng với những thanh niên khác ở thôn T đồng tình đến rạp thôn N để chuẩn b , bản thân cáo sử dụng ình x t hơi cay và cái kéo, khi đến thôn T b cáo ném 02 viên đá vào rạp. Án sơ thẩm áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318 (gây rối trật tự công cộng có dùng hung khí) có khung hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm; áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy đ nh tại khoản 1 Điều 51 như thành khẩn khai áo, ăn năn hối cải và một số tình tiết giảm nhẹ khác tại khoản 2 Điều 51 xử phạt b cáo 27 tháng tù là không nặng, nên không có cơ sở giảm hình phạt cho b cáo.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của b cáo Phan Thanh D1, thấy rằng: B cáo D1 khi thấy đồng phạm hưởng ứng cũng đi theo và dùng 02 hòn đá, 01 gậy gỗ đến rạp thôn T ném 01 viên đá vào rạp. Án sơ thẩm áp dụng các điều luật tương tự như cáo L xử phạt b cáo D1 25 tháng tù là tương xứng, nên không chấp nhận kháng cáo giảm nhẹ hình phạt.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của b cáo Hoàng Minh H, thấy rằng: B cáo H hưởng ứng cùng đồng phạm mang theo 02 viên đá đến thôn T ném vào rạp đông người; b cáo mang hung khí ít hơn 02 cáo D1 và L. Án sơ thẩm áp dụng các điều luật tương tự như cáo L và D1, nhưng cáo không có tình tiết giảm nhẹ ở khoản 2 Điều 51, xử phạt b cáo 24 tháng tù là phù hợp, nên kháng cáo giảm nhẹ không được chấp nhận.
Tuy nhiên, xét thấy các cáo L, D1, H không phải là người chủ mưu, cầm đầu; đây là lần đầu tiên phạm tội; không có tiền án, tiền sự; có nhân thân tốt; có nhiều tình tiết giảm nhẹ; không có tình tiết tăng nặng. Ngoài ra, trong vụ án này các cáo có vai trò thứ yếu, không đáng kể nhưng cấp sơ thẩm không áp dụng tình tiết “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” đối với các cáo là chưa xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ theo hướng dẫn tại điểm 4 phần I Công văn số 01/2017/GĐ - TANDTC của Tòa án nhân dân Tối cao. Tại phiên tòa hôm nay, các cáo cung cấp “Đơn cứu xét’ có xác nhận của chính quyền đ a phương về việc gia đình các cáo có hoàn cảnh khó khăn; chấp hành tốt các quy đ nh tại đ a phương, các cáo có nơi cư trú rõ ràng. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của các b cáo và quan điểm ào chữa của luật sư Lê Hồng S, cho các cáo được hưởng án treo để tự cải tạo tại đ a phương, ch u sự giám sát của chính quyền và nhân dân cũng có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét kháng cáo của đại diện hợp pháp của người b hại, à Phạm Th Mỹ H yêu cầu tăng hình phạt về tội “Giết người” đối với b cáo D. Hội đồng xét xử thấy rằng b cáo D b truy tố tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 BLHS năm 2015 có khung hình phạt từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình; b cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt b cáo 15 năm tù là tương xứng, nên không có có cơ sở tăng hình phạt. Đối với kháng cáo yêu cầu truy tố thêm tội “Gây rối trật tự công cộng” là không cần thiết vì hành vi này đã được xem xét thu hút để truy tố và xử phạt ở tội “Giết người”. Về kháng cáo đối với phần bồi thường thiệt hại, xét thấy việc chi phí chôn cất và ma chay đại diện b hại kê khai đã được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét chấp nhận chi phí hợp lý chôn cất 75.000.000 đồng còn lại chi phi ma chay 150.000.000 đồng không được chấp nhận là đúng quy đ nh của pháp luật, nên cấp phúc thẩm không chấp nhận. Đối với yêu cầu tăng ồi thường thiệt hại về tổn thất tinh thần cho những người thân thích người b hại, Hội đồng xét xử chấp nhận tăng từ 110.000.000 đồng lên 100 tháng mức lương cơ sở hiện nay là 149.000.000 đồng là phù hợp như đề ngh của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Như vậy, tổng số tiền b cáo D phải bồi thường cho đại diện b hại là 249.034.570 đồng, đã ồi thường 210.034.570 đồng (trước xử sơ thẩm 150.000.000 đồng, sau xử sơ thẩm 60.034.570 đồng), nên số tiền còn lại phải bồi thường là 39.000.000 đồng.
Xét Quyết đ nh kháng ngh phúc thẩm số 17/QĐ-VC2, đề ngh Tòa án cấp phúc thẩm hủy một phần bản án về phần hình phạt và tội phạm đối với Nguyễn Tuấn A và Phạm Quốc B tại Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2020/HSST ngày 13/5/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình để điều tra, truy tố, xét xử thêm về tội “Gây rối trật tự công cộng” đối với Nguyễn Tuấn A và tội “Cố ý gây thương tích” đối với b cáo Phạm Quốc B. Thấy rằng, quá trình chuẩn b xét xử, Tòa án cấp sơ thẩm đã trả hồ sơ để điều tra bổ sung như kháng ngh đề cập, tuy nhiên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình đã không thống nhất. Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của các cáo đã được thu hút truy tố trong một tội danh và được xét xử với mức hình phạt nghiêm minh, nếu có hủy phần này trả lại hồ sơ thì kéo dài vụ án không cần thiết, nên không chấp nhận kháng ngh .
Về án phí: Do buộc b cáo D phải bồi thường tăng thêm cho đại diện b hại là 39.000.000 đồng, nên sửa lại phần án phí dân sự sơ thẩm đối với b cáo D; kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của b cáo D không được chấp nhận, nên cáo D phải ch u án phí hình sự phúc thẩm; kháng cáo của các cáo L, D1, H được chấp nhận một phần nên các cáo không phải ch u án phí hình sự phúc thẩm; kháng cáo của đại diện b hại về phần dân sự được chấp nhận một phần nên không phải ch u án phí dân sự phúc thẩm.
Các quyết đ nh khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không
kháng ngh đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của b cáo Hồ Viết D; chấp nhận một phần kháng cáo của các cáo Hồ Văn L, Phan Thanh D1, Hoàng Minh H; chấp nhận một phần kháng cáo của đại diện b hại; không chấp nhận kháng ngh của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng; sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2020HS-ST ngày 13/5/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình.
1/ Tuyên ố b cáo Hồ Viết D phạm tội “Giết người”;
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; các điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt b cáo Hồ Viết D 15 (mười lăm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày cáo bắt tạm giữ, tạm giam ngày 06 tháng 02 năm 2019.
2/ Tuyên ố b cáo Nguyễn Tuấn A phạm tội “Cố ý gây thương tích”;
Áp dụng điểm đ khoản 2 theo điểm a khoản 1 Điều 134, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt b cáo Nguyễn Tuấn A 27 (hai mươi ảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày ắt giam thi hành án, được khấu trừ thời gian b cáo đã bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06 tháng 02 năm 2019 đến ngày 02 tháng 10 năm 2019.
3/ Tuyên ố b cáo Phạm Quốc B phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1,2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt b cáo Phạm Quốc B 30 ( a mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày cáo bắt tạm giữ, tạm giam ngày 06 tháng 02 năm 2019.
4/ Tuyên ố các cáo Hồ Văn L, Phan Thanh D1, Hoàng Minh H phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1,2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt b cáo Hồ Văn L 27 (hai mươi ảy) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 54 tháng.
Xử phạt b cáo Phan Thanh D1 25 (hai mươi lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 50 tháng.
Xử phạt b cáo Hoàng Minh H 24 (hai mươi ốn) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 48 tháng.
Thời gian thử thách của các cáo kể từ ngày tuyên án phúc thẩm;
Giao các cáo Hồ Văn L, Phan Thanh D1, Hoàng Minh H cho Ủy an nhân dân xã H, huyện Bố Trach, tỉnh Quảng Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy đ nh của pháp luật về thi hành án hình sự;
Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết đ nh buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
5/ Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 30 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 48 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 591 Bộ luật dân sự;
Buộc b cáo Hồ Viết D phải bồi thường cho đại diện b hại là ông Phạm Minh Lợi và à Phan Th Thanh 249.034.570 đồng, đã ồi thường 210.0340.570 đồng, b cáo D còn phải bồi thường tiếp 39.000.000 (Ba mươi chín triệu) đồng.
6/ Về án phí: Căn cứ Ngh quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an Thường vụ Quốc Hội “Quy đ nh về về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng áp phí và lệ phí Tòa án”.
B cáo Hồ Viết D phải ch u 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm và 3.452.000 (Ba triệu bốn trăm năm mươi hai nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Các cáo Hồ Văn L, Phan Thanh D1, Hoàng Minh H không phải ch u án phí hình sự phúc thẩm.
Đại diện theo ủy quyền của đại diện b hại là à Phạm Th Mỹ H không phải ch u án phí dân sự phúc thẩm.
7/ Các quyết đ nh khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không
kháng ngh đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (18/9/2020).
| Nơi nhận: - Vụ giám đốc kiểm tra I -TAND Tối cao; - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng; - TAND tỉnh Quảng Bình; - VKSND tỉnh Quảng Bình; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình; - Cục THADS tỉnh Quảng Bình; - Cơ quan THAHS CA tỉnh Quảng Bình; - Cơ quan CSĐT, Phòng HSNV Công an tỉnh Quảng Bình; - Trại giam CA tỉnh Quảng Bình; ( 02 bản, 01 bản tống đạt cho b cáo); - B cáo; người tham gia tố tụng khác; - UBND xã H,huyện B, tỉnh Quảng Bình; (thay cho việc thông áo ằng văn ản) - Lưu hồ sơ vụ án; lưu trữ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Tấn Trường |