- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm"
- Tòa quyết gì? Luật phí, lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒ TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 233/2018/HNGĐ-ST Ngày: 20-3-2018 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Tuấn Nhu
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Bình
2. Bà Lê Phi Yến
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đài Trang, Thư ký Tòa án nhân dân
quận Tân Bình.
Ngày 20 tháng 3 năm 2018 tại Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành
phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 944/2017/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2017 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2018, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim H, năm sinh 1978 (có mặt);
Địa chỉ: 115 đường S, Phường C, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: Ông Đàm Minh T, sinh năm 1983 (xin vắng mặt);
Địa chỉ: 115 đường S, Phường C, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim H trình bày: Bà và ông Đàm Minh T tự
nguyện chung sống với nhau từ năm 2009, có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 83/2009, quyển số I/2009 ngày 04 tháng 5 năm 2009 do Ủy ban nhân dân Phường C, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh cấp.
1
Trong thời gian chung sống với nhau do bất đồng quan điểm sống nên
phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do khó khăn về kinh tế cũng như không hòa hợp về lối sống và đã ly thân từ năm 2011 đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt nên bà Nguyễn Thị Kim H yêu cầu ly hôn với ông Đàm Minh T để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Có 01 người con chung tên Đàm Mỹ K, sinh ngày 09
tháng 6 năm 2009. Ly hôn, bà Nguyễn Thị Kim H yêu cầu giao con chung cho ông Đàm Minh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và bà Nguyễn Thị Kim H không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Kim H khai không có, không yêu cầu
Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Kim H khai không có, không yêu cầu Tòa
án giải quyết.
Bị đơn ông Đàm Minh T trình bày: Ông và bà Nguyễn Thị Kim H chung
sống và kết hôn với nhau vào năm 2009. Trong quá trình chung sống do bất đồng quan điểm nên không thể hòa hợp. Nay bà Nguyễn Thị Kim H yêu cầu ly hôn thì ông cũng đồng ý để ổn định cuộc sống cho mỗi người.
Về con chung: Có 01 người con chung tên Đàm Mỹ K, sinh ngày 09
tháng 6 năm 2009. Ly hôn, ông Đàm Minh T đồng ý trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và không yêu cầu bà Nguyễn Thị Kim H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Ông Đàm Minh T khai không có, không yêu cầu Tòa án
giải quyết.
Về nợ chung: Ông Đàm Minh T khai không có, không yêu cầu Tòa án
giải quyết.
Tại phiên tòa bà Nguyễn Thị Kim H vẫn giữ nguyên ý kiến đã trình bày
về quan hệ hôn nhân, quan hệ con chung, tài sản chung và nợ chung.
Bị đơn ông Đàm Minh T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được xem xét tại
phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp: Xét bà Nguyễn Thị Kim H yêu cầu ly hôn ông
Đàm Minh T. Hội đồng xét xử xét thấy đây là quan hệ ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về thẩm quyền: Xét ông Đàm Minh T hiện cư trú tại 115 Nguyễn Sỹ
S, Phường C, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ điểm a khoản 1
2
Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; bà Nguyễn Thị Kim H khởi kiện ông Đàm Minh T tại Tòa án nhân dân quận Tân Bình là đúng quy định của pháp luật.
Xét, trong quá trình giải quyết vụ án, ông Đàm Minh T đã có đơn xin
yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông Đàm Minh T.
Xét quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kim H và ông Đàm Minh T tự
nguyện đăng ký kết hôn, có giấy chứng nhận kết hôn số 83/2009, quyển số I/2015 ngày 04 tháng 5 năm 2009 do Ủy ban nhân dân Phường C, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh cấp là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Xét bà Nguyễn Thị Kim H và ông Đàm Minh T chung sống với nhau
không hạnh phúc, mâu thuẫn kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt. Tình cảm vợ chồng không còn và để ổn định cuộc sống của mỗi người nên bà Nguyễn Thị Kim H yêu cầu ly hôn với ông Đàm Minh T và ông Đàm Minh T cũng xác nhận trong thời gian sống chung với nhau thì giữa ông và bà Nguyễn Thị Kim H không hòa hợp do bất đồng quan điểm sống. Nay bà Nguyễn Thị Kim H yêu cầu ly hôn thì ông Đàm Minh T cũng đồng ý. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kim H ly hôn ông Đàm Minh T.
Xét quan hệ con chung: Có 01 người con chung tên Đàm Mỹ K, sinh
ngày 09 tháng 6 năm 2009. Ly hôn, bà Nguyễn Thị Kim H yêu cầu giao con chung cho ông Đàm Minh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và không cấp dưỡng nuôi con. Ông Đàm Minh T cũng đồng ý trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu bà Nguyễn Thị Kim H cấp dưỡng nuôi con và trẻ Đàm Mỹ K cũng có nguyện vọng sống với bố là ông Đàm Minh T. Xét giữa bà Nguyễn Thị Kim H và ông Đàm Minh T đã thỏa thuận được việc nuôi con chung cũng như nguyện vọng của trẻ Đàm Mỹ K. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ chấp nhận ông Đàm Minh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Đàm Mỹ K, sinh ngày 09 tháng 6 năm 2009 và tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho bà Nguyễn Thị Kim H do ông Đàm Minh T không yêu cầu.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị Kim H phải chịu ly hôn sơ thẩm là
300.000 đồng;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
3
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1
Điều 39, Điều 68, khoản 1 Điều 147, khoản 4 Điều 207, khoản 1 Điều 227, Điều 271, khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Điều 8, Điều 9, khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81,
Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Luật phí, lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30
tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường Vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kim H ly hôn ông Đàm Minh T.
2. Về con chung: Giao ông Đàm Minh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng
con chung tên Đàm Mỹ K, sinh ngày 09 tháng 6 năm 2009. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho bà Nguyễn Thị Kim H do ông Đàm Minh T không yêu cầu.
Khi có lý do chính đáng mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng có thể
thay đổi.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà
không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở
người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo qui
định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Thi hành tại Cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.
3. Về tài sản chung: Không có.
4. Về nợ chung: Không có.
5. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Kim H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là
300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, được cấn trừ vào 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí bà Nguyễn Thị Kim H đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2017/0006919 ngày 05 tháng 10 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
6. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Bà Nguyễn Thị Kim H được quyền
kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Đàm Minh
4
T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc Tòa án niêm yết hợp lệ bản án.
Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được
quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2
Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; - Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình; - Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình; - Ủy ban nhân dân Phường C, quận Tân Bình; - Các đương sự; - Lưu VP, hồ sơ. 5 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Võ Tuấn Nhu |