vanban.org

Bản án 232/2026/HSST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hà Nội, TP. Hà Nội Tuyên án 28/04/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn T1 phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng: điểm d khoản 3 điều 134, điểm s khoản 1, 2 điều 51, điểm d khoản 1 điều 52, điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025. Điều 106, điều 136, điều 331, điều 333, điều 337 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.201… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "T - cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn T1 phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 232/2026/HSST
Ngày 28 tháng 4 năm 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải Yến

Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Xuân Phương

2. Bà Huỳnh Thị Thanh Hà

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan – Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 3 –Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Huyền – Kiểm sát viên

Hôm nay ngày 28.4.2026, tại trụ sở, Toà án nhân dân Khu vực 3 – Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 99/2026/HSST ngày 12.02.2026 đối với bị cáo:

Hoàng Văn T1; Sinh năm: 1987. Giới tính: Nam. CCCD số: 001087003106. HKTT: 4B ngõ 461 T, phường B, thành phố Hà Nội. Nơi ở: 13 ngách 121/39 K, phường V, thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: Tự do. Văn hóa: 8/12. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Con ông: Hoàng Văn L. Con bà: Nghiêm Thị T3. Danh chỉ bản số 1586 ngày 11/7/2025 do Công an thành phố Hà Nội cung cấp. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 30/7/2009, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (đã xóa án tích). Ngày 21/10/2011, Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội Chống người thi hành công vụ (đã xóa án tích). Bắt quả tang ngày 03/7/2025. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố Hà Nội. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại:

1. Chị Trần Thị Thúy H (sinh năm: 1994; Địa chỉ: 81 Đ, phường B, thành phố Hà Nội). Có mặt tại phiên tòa.

2. Bà Trần Kim T2 (sinh năm: 1966; Địa chỉ: 81 Đ, phường B, thành phố Hà Nội). Có mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng:

1. Bà Nghiêm Thị T3 (sinh năm: 1956; HKTT: 4B ngõ 461 T, phường B, thành phố Hà Nội. Nơi ở: Số 13 ngách 121/39 K, phường V, thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.

2. Ông Hoàng Văn L (sinh năm: 1954; HKTT: 4B ngõ 461 T, phường B, thành phố Hà Nội. Nơi ở: Số 13 ngách 121/39 K, phường V, thành phố Hà Nội). Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hoàng Văn T1 và Trần Thị Thúy H (SN: 1994; Nơi thường trú: 81 Đ, phường B, TP. Hà Nội) là vợ chồng. Khoảng 8h30 ngày 3/7/2025, giữa T1 và chị H có xảy ra xô xát, cãi vã tại nhà của T1 (Địa chỉ: 13 Ngách 39 Ngõ 121 K, phường V, thành phố Hà Nội). Khi thấy T1 dùng tay chân không đánh chị H thì ông Hoàng Văn L (bố đẻ của T1) có vào can ngăn nhưng không được nên ông L đã đến công an phường Vĩnh Tuy để trình báo về nội dung sự việc, trong lúc đó T1 yêu cầu chị H gọi điện cho bà Trần Kim T2 (SN: 1966, Nơi thường trú: 81 Đ, phường B, TP. Hà Nội – cô ruột của chị H) đến nhà T1 để nói chuyện.

Khoảng 09h00 cùng ngày, bà T2 đến nhà T1 thì gặp T1 và chị H (cháu gái của bà T2) đang ngồi ở phòng khách tầng 1. Bà T2 bảo “ Sao mày đánh cháu tao”; “Mày mà đánh nó thì đánh tao đánh mày” thì T1 dùng tay đấm vào người chị H 01 cái. Thấy vậy, bà T2 cầm cốc uống nước bằng thủy tinh có quai đang để trên bàn đánh T1 hai cái, T1 đứng dậy dùng tay trái gạt ra đấm vào mặt rồi túm tóc bà T2, đánh tới tấp làm chiếc cốc thủy tinh bị rơi xuống nền nhà. Cùng lúc này, chị H bế cháu P (con trai của chị H) vào can ngăn thì bị T1 dùng tay túm tóc, đánh vào mặt khiến chị H, bà T2 ngã ra sàn. Bà T2 nhặt mảnh vỡ của chiếc cốc thủy tinh trên sàn nhà đâm về phía T1 khiến T1 bị chảy máu ở phần bụng và phần tai. Khi sự việc xảy ra, bà T3 là mẹ đẻ của T1 cũng vào can ngăn nhưng không được, T1 dùng tay phải túm tóc và dùng chân đạp khiến bà T2 ngã ngửa ra sàn nhà rồi khóa cửa để bà T2 không ra ngoài được. Bà T2 dùng tay túm quần T1 và cầm mảnh thủy tinh đâm vào phần hông của T1 nên T1 quay lại dùng tay phải đấm hai phát (theo hướng từ trên xuống) vào vùng đầu và mặt của bà T2. Khi chị H định mở cửa thì bị T1 dùng tay đánh vào vùng đầu và vùng mặt của chị H khiến chị H, cháu Phúc ngã ra sàn. Thấy vậy, bà T2 dùng tay đấm T1 với mục đích để can ngăn T1 không tiếp tục đánh chị H thì bị T1 túm tóc ấn xuống sàn và giữ tay chân không cho bà T2 chống cự. T1 tiếp tục dùng chân đạp một cái vào mặt bà T2 rồi dùng tay tát chị H hai cái, tát bà T2 một cái. Sau đó, T1 dùng một tay giữ tay bà T2, tay còn lại túm tóc chị H rồi dùng tay phải tát vào mặt, đầu chị H và đầu bà T2, vừa tát bị can T1 vừa chửi “Đ. mẹ mày”. Sau đó, T1 dùng hai tay túm tóc bà T2 ấn xuống rồi kéo lê, lôi bà T2 vào khu vực bếp. Tại đây, T1 dùng tay phải cầm một chiếc ấm pha chè bằng sứ, màu trắng đập một cái vào vùng trán của bà T2 (theo hướng từ trên xuống) khiến bà T2 bị choáng và ngã ngửa ra sàn. T1 tiếp tục cầm chiếc ấm bằng sứ trên tay chửi bới, đồng thời tay trái túm tóc, lôi chị H ra trước mặt bà T2, vừa chửi vừa dùng chiếc ấm đập 2 đến 3 cái vào vùng đầu chị H. Lúc này, bà T2 ngóc đầu dậy thì T1 lại dùng chiếc ấm đập một cái vào vùng đầu bà T2. Tiếp đó, T1 kéo ghế ngồi xuống, tay trái vẫn túm tóc ấn đầu chị H xuống không cho can ngăn, chống cự, chân phải T1 giơ lên đạp một cái xuống người bà T2, tay phải tiếp tục cầm chiếc ấm đập vào đầu bà T2. T1 vừa chửi bà T2 vừa dùng chiếc ấm liên tiếp đập vào đầu, mặt bà T2 và chị H, chân phải T1 đạp bà T2 3 đến 4 cái không cho bà T2 đứng dậy. Bà T3 tiếp tục can ngăn nhưng không được, T1 vẫn túm tóc chị H, lúc này chiếc ấm trắng trong tay T1 bị rơi vỡ, tay phải của T1 lấy được chiếc cốc thủy tinh trên bàn đánh, chửi bắt bà T2 quỳ xuống xin lỗi thì T1 mới tha. Bà T2 không xin lỗi đứng dậy đi ra phía cửa nhưng bị T1 túm áo lôi lại bắt quỳ xuống đất. Khi bà T3 can ngăn giữ tay T1 nhưng T1 vẫn túm tóc, dùng cốc thủy tinh đập, đánh nhiều lần vào vùng đầu chị H và bà T2 (theo hướng ngang, không hết sải tay). Khi T1 đang đánh, chửi chị H và bà T2 thì Công an Vĩnh Tuy đến ngăn chặn, đưa chị H và bà T2 đi cấp cứu, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, đưa T1 về trụ sở Công an phường Vĩnh Tuy để làm rõ vụ việc.

Tại hiện trường thu giữ: 05 túi nilong bên trong đựng mảnh sành và mảnh thủy tinh có bám dính chất màu đỏ; 01 túi nilong bên trong có 3 cốc thủy tinh và 01 chai nhựa có dung dịch màu đỏ; 02 thẻ thu mẫu lông tóc; 04 ống nhựa bên trong mỗi ống có 01 bông tăm thu dấu vết nâu đỏ.

Theo biên bản làm việc với bệnh viện Thanh Nhàn thì bà Trần Kim T2 vào viện lúc lúc 9h32 ngày 03.7.2025, sơ bộ thương tích: có vết thương phần mềm vùng mặt, vết thương phức tạp vùng mắt trái, theo dõi tổn thương đứt tuyến lệ gần cung tiếp gò má trái, bà T2 được chuyển đến Bệnh viện mắt trung trong xử lý tiếp. Đối với chị H, chẩn đoán sơ bộ thì có vết thương phần mềm vùng đỉnh đầu, chấn thương hàm mặt.

Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định tỷ lệ thương tích số C3762 ngày 03.7.2025 đối với thương tích của chị H và Quyết định trưng cầu giám định tỷ lệ thương tích số C3761 ngày 04.7.2025 đối với thương tích của bà Trần Kim T2.

Tại Bản kết luận giảm định tổn thương cơ thể trên người sống số 1133 ngày 30/9/2025 của Trung tâm giám định pháp y Hà Nội đối với bà Trần Kim T2:

1. Các kết quả chính:

1.1. 02 vết thương vùng trán trái (ngoài chân tóc): 5,91%

1.2. Vết thương vùng trán phải: 03%

1.3. Vết thương gò má phải: 03%

1.4. Vết thương mi trên mắt trái: 06%

1.5. Vết thương, vết mổ gốc mũi – ngang mi dưới mắt trái: 09%

1.6. Vết thương mà trái: 06%

1.7. Đứt lệ quản trái đã phẫu thuật: 05%

2. Kết luận:

2.1. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Bà Trần Kim T2 tại thời điểm giám định là: 32% (Ba mươi hai phần trăm). Áp dụng phương pháp cộng tại Thông tur só 22/2019/TT-BYT.

2.2. Kết luận khác:

- Cơ chế hình thành thương tích: Do vật tây, tây có cạnh, vật có cạnh tương tối sắc gây nên.

- Tại thời điểm giám định, chưa đánh giả hết mức độ tổn thương mắt trái và các di chứng, biến chứng của các tổn thương. Ngoài ra không thấy rõ hình ảnh gẫy cung tiếp gò má trái (không phân biệt rõ gẫy mới hay gẫy cũ) trên phim cứng của Bệnh viện Thanh Nhàn. Đề nghị giám định bổ sung và chụp lại phim CLVT sau khi bà T2 điều trị ổn định và ra viện.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 1040 ngày 12/9/2025 của Trung tâm giám định pháp y Hà Nội đối với chị Trần Thị Thúy H:

1. Các kết quả chính:

1.1. Vết thương thái dương trái: 01%

1.2. Vết thương trán phải trong chân tóc: 01%

1.3. 02 vết thương vùng đinh và đỉnh chẩm phải: 1,99%

1.4. Vết thương giữa 2 cung mày và gốc mũi: 03%

1.5. Gãy xương mũi đã phẫu thuật nắn chỉnh: 07%

1.6. Vết sây sát da tháp mũi phải: 0,5%

2. Kết luận:

2.1. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Thị Thúy H tại thời điểm giám định là: 14% (mười bốn phần trăm). Áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT

2.2. Kết luận khác:

- Cơ chế hình thành thương tích: Thương tích của chị Trần Thị Thúy H do vật tày, vật có cạnh tương tối sắc gây nên.

- Hiện chưa đánh giá được hết mức độ di chứng của các tổn thương. Đề nghị giám định bổ sung sau khi có căn cứ.

Tại Cơ quan điều tra, Hoàng Văn T1 khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Do bức xúc về việc chị H đón con không có sự đồng ý của T1 nên T1 đã có hành vi dùng tay chân không gây thương tích cho chị H, bà T2. Sau đó, do bà T2 dùng cốc thủy tinh, mảnh thủy tinh gây thương tích cho T1 nên T1 có hành vi dùng ấm, cốc thủy tinh đánh bà T2. Khi bà T2 dùng mảnh vỡ của cốc thủy tinh đâm vào T1 khiến T1 bị thương tích nhưng đối với thương tích của bản thân, T1 từ chối khám thương, từ chối giám định thương tích.

Tại Cơ quan điều tra, bị hại là chị H, bà Trần Kim T2 khai nhận nội dung sự việc như đã nêu trên. Bà T2 thừa nhận do bức xúc về việc T1 đánh chị H nên bà T2 đã có hành vi dùng cốc thủy tinh, mảnh cốc vỡ gây thương tích cho Hoàng Văn T1. Bà T2 và chị H đề nghị xử lý hình sự đối với Hoàng Văn T1 theo quy định của pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án, bà T2 và chị H đã được thông báo kết luận giám định của Trung tâm giám định pháp y Hà Nội, bà T2 và chị H không có ý kiến gì với Kết luận giám định trên và không có yêu cầu giám định bổ sung. Về dân sự, chị H, bà Trần Kim T2 không có yêu cầu, đề nghị gì. Bà T2 và chị H đều xin giảm nhẹ hình phạt cho T1.

Quá trình giải quyết vụ án, Cơ quan Điều tra thu giữ 01 USB bên trong lưu giữ 02 file Video ghi lại nội dung vụ án. Tại Bản kết luận giám định số 7163 ngày 20/10/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an thành phố Hà Nội, kết luận: Không có dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong các file gửi giám định.

Đối với hành vi của bà T2 dùng mảnh vỡ cốc thủy tinh gây thương tích cho T1, tuy nhiên do T1 từ chối đi giám định thương tích nên không có căn cứ xử lý hình sự đối với bà T2. Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Hà Nội đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với bà Trần Kim T2 về lỗi “Cố ý gây thương tích cho người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự” theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ- CP ngày 31.12.2021.

Về dân sự, chị H, bà T2 không có yêu cầu, đề nghị gì về vấn đề dân sự. Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội.

Tại bản cáo trạng số 244/CT/VKS-HS ngày 10/2/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Hà Nội thì bị cáo Hoàng Văn T1 bị truy tố về tội Cố ý gây thương tích theo điểm d khoản 3 điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 – thành phố Hà Nội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Hoàng Văn T1 về tội danh và điều luật đã viện dẫn. Sau khi xem xét đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị:

Áp dụng: điểm d khoản 3 điều 134, điểm s khoản 1, 2 điều 51, điểm d khoản 1 điều 52, điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.

Xét xử bị cáo Hoàng Văn T1 với mức hình phạt từ 7 năm đến 8 năm tù.

Tang vật: Tịch thu tiêu hủy: 05 túi nilon bên trong có đựng mảnh sành và mảnh thủy tinh có bám dính chất màu đỏ, 01 túi nilon bên trong có 03 cốc thủy tinh và một chai nhựa có dung dịch nước màu đỏ, 02 thẻ thu mẫu lông tóc, 04 ống nhựa bên trong mỗi ống có một bông tăm thu dấu vết nâu đỏ.

Về dân sự: Bị hại không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự nên không xét.

Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân khu vực 3 – Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà hôm nay bị cáo khai nhận hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà, là phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Thấy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 9h00 ngày 3/7/2025, tại 13 ngách 39 Ngõ 121 K, phường V, thành phố Hà Nội, xuất phát từ mâu thuẫn trong gia đình, T1 có hành vi dùng tay chân không, ấm sứ trắng và cốc thủy tinh gây thương tích cho chị Trần Thị Thúy H với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 14% và gây thương tích cho bà Trần Kim T2 với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 32%.

Hành vi của bị cáo Hoàng Văn T1 đã phạm tội Cố ý gây thương tích, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 3 điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến thân thể sức khỏe của người khác, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội, cần phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng cải tạo bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.

Xét nhân thân bị cáo Hoàng Văn T1 có 02 tiền án đã xóa án tích và chưa có tiền sự. Tại toà bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

Tang vật: Tịch thu tiêu hủy: 05 túi nilon bên trong có đựng mảnh sành và mảnh thủy tinh có bám dính chất màu đỏ, 01 túi nilon bên trong có 03 cốc thủy tinh và một chai nhựa có dung dịch nước màu đỏ, 02 thẻ thu mẫu lông tóc, 04 ống nhựa bên trong mỗi ống có một bông tăm thu dấu vết nâu đỏ.

Về dân sự: Bị hại không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự nên không xét.

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Từ những nhận định trên!

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn T1 phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng: điểm d khoản 3 điều 134, điểm s khoản 1, 2 điều 51, điểm d khoản 1 điều 52, điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025. Điều 106, điều 136, điều 331, điều 333, điều 337 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt:

Hoàng Văn T1 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/7/2025.

Tang vật:

- Tịch thu tiêu hủy: 05 túi nilon bên trong có đựng mảnh sành và mảnh thủy tinh có bám dính chất màu đỏ, 01 túi nilon 0bên trong có 03 cốc thủy tinh và một chai nhựa có dung dịch nước màu đỏ, 02 thẻ thu mẫu lông tóc, 04 ống nhựa bên trong mỗi ống có một bông tăm thu dấu vết nâu đỏ.

Các tang vật để tại Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 3 – Hà Nội theo biên bản bàn giao vật chứng số 2026/KV3-268/GN/THA-CA ngày 18.3.2026.

Bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ