- Tranh chấp gì? án hành chính — "NKK: PHAN THỊ X - NBK: CHỦ TỊCH UBND HUYỆN V, TỈNH HƯNG YÊN"
- Tòa quyết gì? Bác kháng cáo của bà Phan Thị X.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 157 Luật Tố tụng hành chính; Điều 2 Luật Người cao tuổi
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 232/2025/HCPT Ngày: 31/3/2025. V/v: “Khiếu kiện hủy QĐ hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Thanh.
Các Thẩm phán:
Bà Nguyễn Ngọc Hoa;
Ông Nguyễn Xuân Điền.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo Trang, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuyến, Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm, công khai, vụ án hành chính thụ lý số 56/2025/TLPT-HC ngày 15 tháng 01 năm 2025 do có kháng cáo của người khởi kiện, đối với Bản án hành chính sơ thẩm số 42/2024/HC-ST ngày 08 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2861/2025/QĐ-PT ngày 17 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, giữa các đương sự:
* Người khởi kiện: Bà Phan Thị X, sinh năm 1961; địa chỉ: Thôn F, xã X, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Có mặt.
- Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện: Bà Lê Thị Mai N, sinh năm 1979; địa chỉ: Tổ A phường N, quận L, thành phố Hà Nội. nbkk
2. Người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh Hưng Yên;
- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Quốc C - Chức vụ: Phó Chủ tịch UBND huyện V. Có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt.
3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh Hưng Yên;
- Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn T - Chức vụ: Chủ tịch UBND huyện V;
- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Quốc C - Chức vụ: Phó Chủ tịch UBND huyện V. Có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt.
3.2. Ủy ban nhân dân xã X, huyện V, tỉnh Hưng Yên;
- Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Mạnh T1 - Chức vụ: Chủ tịch UBND xã X. Có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt.
3.3. Công ty Cổ phần T5;
- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Công H - Phó Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần T5; địa chỉ: Khu đô thị T - xã X, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt.
3.4. Ông Đàm Đức K, sinh năm 1960; địa chỉ: Thôn F, xã X, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.
3.5. Ông Đàm Đức T2, sinh năm 1986; địa chỉ: Thôn F, xã X, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.
3.6. Bà Đàm Thị Hồng T3, sinh năm 1983; địa chỉ: Số I, chung cư A, ngõ H phố H, phường T, quận T, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các bản tự khai, người khởi kiện, người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện trình bày:
Theo Biên bản giao đất cho các hộ gia đình năm 1998 thể hiện, các thành viên hộ gia đình người khởi kiện được nhà nước giao đất nông nghiệp để phục vụ sản xuất và hộ gia đình sử dụng đất ổn định, đúng mục đích.
Ngày 24/04/2012, Chủ tịch UBND huyện V đã chỉ đạo, tổ chức cưỡng chế thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình tại địa bàn xã X, huyện V, tỉnh Hưng Yên để giao cho Công ty cổ phần T5 làm dự án xây dựng. Hành vi chỉ đạo tổ chức cưỡng chế thu hồi đất nêu trên của Chủ tịch UBND huyện V đã vi phạm các quy định của pháp luật đất đai, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bởi các lý do sau đây:
- Dự án Ecopark Văn G không chứng minh được lý do thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, công cộng theo quy định tại Điều 39 Luật Đất đai 2003.
- Tại thời điểm cưỡng chế thu hồi đất, Chủ tịch UBND huyện V chưa có đủ căn cứ pháp lý về văn bản phê duyệt, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp có thẩm quyền, không có Thông báo thu hồi đất, không ra quyết định thu hồi đất hoặc quyết định cưỡng chế thu hồi đất; không xây dựng phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. UBND xã không niêm yết quyết định cưỡng chế thu hồi đất tại trụ sở UBND xã theo quy định.
- Chủ tịch UBND huyện V chỉ đạo tổ chức cưỡng chế thu hồi đất mà không bàn bạc với các hộ có đất bị thu hồi và Hội đồng nhân dân các cấp là trái pháp luật.
Người khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố hành vi cưỡng chế thu hồi đất nói trên của Chủ tịch UBND huyện V là trái pháp luật; yêu cầu Công ty cổ phần T5 ngừng ngay hoạt động thi công và hoàn trả tài sản đất đai đã được bàn giao do hành vi cưỡng chế ngày 24/4/2002 của Chủ tịch UBND huyện V, tỉnh Hưng Yên.
Người bị kiện trình bày:
- Về chủ trương đầu tư: Dự án Khu đô thị T được triển khai theo Quyết định số 742/QĐ-TTg ngày 30/6/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc thu hồi 5.540.712m2 đất tại các xã X, P, C, L, T, thị trấn V thuộc huyện V; các xã H, Y, Y thuộc huyện Y và các xã Đ, T, D thuộc huyện K, tỉnh Hưng Yên; giao toàn bộ diện tích đất thu hồi cho Chủ đầu tư để thực hiện dự án xây dựng tuyến đường từ cầu T đi thị xã H đoạn từ huyện V đến xã D, huyện K, tỉnh Hưng Yên theo phương thức sử dụng quỹ đất để tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng.
Thực hiện việc thu hồi đất theo Quyết định nói trên của Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh H đã ban hành Quyết định 2549/QĐ-UB và Quyết định số 2550/QĐ-UB cùng ngày 21/10/2004; Quyết định số 2006/QĐ-UB ngày 08/6/2005 về việc phê duyệt phương án bồi thường và hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất, giao đất cho Công ty Cổ phần Đ1, để xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu Đô thị -, địa phận xã X, huyện V.
- Về công tác giải phóng mặt bằng.
Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư huyện V đã tiến hành kiểm kê, lập phương án trình UBND huyện V ban hành quyết định phê duyệt; tổ chức niêm yết công khai phương án bồi thường để người dân được biết và kiểm tra; tổ chức chi trả cho các hộ tự nguyện nhận tiền và bàn giao mặt bằng; chuyển tiền vào Ngân hàng đối với các hộ chưa nhận tiền.
Tổng số hộ gia đình đã nhận tiền bồi thường giải phóng mặt bằng và bàn giao mặt bằng tính đến trước thời điểm thực hiện việc cưỡng chế là 1560 hộ/1720 hộ; tổng số hộ gia đình còn lại không nhận tiền bồi thường giải phóng mặt bằng và không bàn giao mặt bằng tính đến trước thời điểm thực hiện cưỡng chế là 160 hộ, diện tích phải cưỡng chế khoảng 5,86 ha. Tính đến thời điểm hiện nay, số hộ gia đình đã nhận tiền bồi thường, hỗ trợ là 1623 hộ/1720 hộ; số hộ gia đình chưa nhận tiền là 97 hộ.
Do một số hộ dân bị thu hồi đất cố tình không thực hiện quyết định thu hồi đất của cơ quan có thẩm quyền, không nhận tiền bồi thường giải phóng mặt bằng, không di chuyển tài sản, cây cối hoa màu để bàn giao đất và không ký biên bản bàn giao đất nên UBND xã X đã lập biên bản vi phạm hành chính và đề nghị UBND huyện V xử phạt vi phạm hành chính.
Ngày 13/12/2011, Chủ tịch UBND huyện V đã ban hành các quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các hộ gia đình có vi phạm theo quy định tại Điều 39, Điều 40 Luật Đất đai 2003 sửa đổi, bổ sung năm 2009 và Điều 17 Nghị định số 105/2009/NĐ-CP ngày 11/11/2009 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.
Ngày 05/4/2012, Chủ tịch UBND huyện V đã ban hành Quyết định về việc áp dụng biện pháp cưỡng chế bằng các biện pháp cưỡng chế khác để thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với các hộ dân không chấp hành quyết định xử phạt, trong đó có hộ gia đình người khởi kiện. Biện pháp cưỡng chế là: Giải tỏa mặt bằng trên thực địa để bàn giao đất theo các Quyết định và Thông báo của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Thời gian thực hiện cưỡng chế: Từ ngày 20/4/2012.
Ngày 24/4/2012, UBND huyện V tổ chức thực hiện cưỡng chế ngoài thực địa; kết quả cưỡng chế được lập thành biên bản và gửi cho hộ gia đình nhưng hộ gia đình không hợp tác.
Căn cứ các quy định của pháp luật về việc cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt hành chính trong lĩnh vực đất đai; sau khi rà soát, đối chiếu với các văn bản thuộc hồ sơ cưỡng chế và trình tự các bước thực hiện cưỡng chế nêu trên, Chủ tịch UBND huyện tổ chức cưỡng chế thu hồi đất ngày 24/4/2012 đối với người khởi kiện là đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
- UBND huyện V, tỉnh Hưng Yên thống nhất quan điểm, đề nghị của người bị kiện Chủ tịch UBND huyện V và không bổ sung nội dung gì khác.
- UBND xã X, huyện V có quan điểm xác định việc cưỡng chế thu hồi đất của Chủ tịch UBND huyện V đối với hộ gia đình người khởi kiện đã bảo đảm đúng trình tự, tủ tục theo quy định pháp luật nên đề nghị Tòa án bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện.
- Công ty T5 trình bày: Toàn bộ dự án của Công ty được nhà nước giao đất là đúng quy định của pháp luật, do đó không chấp nhận yêu cầu khởi kiện.
- Các thành viên hộ gia đình có đất bị thu hồi đều thống nhất với yêu cầu của người khởi kiện, không ai có ý kiến khác.
Bản án hành chính sơ thẩm số 42/2024/HC-ST ngày 08 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên đã căn cứ Điều 30; Điều 32; điểm a khoản 2 Điều 193; Điều 206 của Luật Tố tụng hành chính; Điều 39; Điều 44 của Luật Đất đai năm 2003; Điều 66; Điều 67 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính 2002; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; xử:
Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị X về việc yêu cầu Tòa án: Tuyên hành vi tổ chức thi hành quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế bằng các biện pháp khác, ngày 24/4/2012 của Chủ tịch UBND huyện V đối với hộ gia đình ông (bà) là trái pháp luật.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí sơ thẩm và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 12/7/2024, người khởi kiện có đơn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm: Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy toàn bộ bản án sơ thẩm, buộc Công ty Cổ phần T5 (Trước đây là Công ty cổ phần Đ1) hoàn trả lại toàn bộ diện tích đất đã được UBND huyện V giao cho gia đình trước đây.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Người khởi kiện giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo.
- Người bị kiện và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án vắng mặt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu quan điểm: Về tố tụng quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến phiên tòa, Thẩm phán - Chủ tọa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Luật Tố tụng hành chính; những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Về hướng giải quyết vụ án, sau khi phân tích nội dung vụ án, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, nội dung kháng cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử: Bác kháng cáo của người khởi kiện, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Đơn kháng cáo của bà Phan Thị X nộp trong thời hạn và đúng với quy định tại Điều 205, Điều 206 Luật Tố tụng hành chính nên hợp lệ, được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết thủ tục phúc thẩm.
Về việc vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa chỉ có mặt người khởi kiện; người bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do hoặc đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 157 của Luật Tố tụng hành chính để tiến hành xét xử vụ án vắng mặt họ.
Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đối tượng khởi kiện, tư cách đương sự, giải quyết vụ án đúng thẩm quyền được quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 3; khoản 1 Điều 30; điểm a khoản 2 Điều 116 và khoản 3, khoản 4 Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính; xác định đúng và đủ các đương sự trong vụ án. Đối với yêu cầu của bà Phan Thị X đề nghị Tòa án buộc Công ty Cổ phần T5 phải ngừng ngay việc thi công và trả lại quyền sử dụng đất cho người khởi kiện không phải là hành vi hành chính thuộc thẩm quyền theo loại việc của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 3 và khoản 1 Điều 30 Luật Tố tụng hành chính nên Tòa án cấp sơ thẩm xác định không phải đối tượng khởi kiện vụ án hành chính và không giải quyết là đúng.
Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 24/4/2012, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện V tổ chức cưỡng chế, thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các hộ gia đình vi phạm trên thực địa. Ngày 22/3/2013, hộ gia đình có đơn khởi kiện nộp tại Tòa án nhân dân huyện Văn Giang là đảm bảo về thời hiệu khởi kiện. Năm 2018, Tòa án nhân dân huyện Văn Giang chuyển đơn và tài liệu của vụ án đến Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên giải quyết là đúng về thẩm quyền, tuy nhiên có vi phạm về thời hạn giải quyết đơn. Sau khi nhận được đơn khởi kiện, Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên đã yêu cầu đương sự bổ sung tài liệu, chứng cứ, nhưng do vụ án có liên quan đến trên 100 hộ dân cùng khởi kiện và có nhiều đương sự ở nhiều nơi, đòi hỏi người khởi kiện cần nhiều thời gian thu thập tài liệu để giao nộp cho Tòa án. Ngoài ra, hoạt động giữa Tòa án và đương sự đều bị gián đoạn trong quá trình giải quyết vì dịch bệnh Covid19. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xác định các trở ngại nêu trên là do khách quan nên không tính vào thời hiệu khởi kiện theo quy định tại khoản 4 Điều 116 của Luật Tố tụng hành chính để xác định vụ án còn thời hiệu để giải quyết là có căn cứ và đảm bảo quyền khởi kiện của đương sự.
Xét kháng cáo của người khởi kiện, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của hành vi hành chính: Chủ tịch UBND huyện V ban hành quyết định cưỡng chế và tổ chức việc cưỡng chế thi hành là đúng về thẩm quyền theo quy định tại Điều 39 của Luật Đất đai 2003; Điều 4 và Điều 7 Nghị định 37/2005/NĐ-CP ngày 18/3/2005 của Chính phủ. Sau khi ban hành, quyết định đã được giao cho các cá nhân, hộ gia đình có liên quan, đối với các trường hợp không ký nhận văn bản thì được niêm yết công khai, thông báo trên các phương tiện truyền thanh của địa phương hoặc cử người đại diện của chính quyền cơ sở đến gặp để vận động, thuyết phục. Chứng minh cho điều đó là có tới 93,7% người dân trong cùng địa phương đã biết và chấp hành. Do đó, trình tự và thủ tục thực hiện hành vi cưỡng chế hành chính là đảm bảo quy định của pháp luật theo điều 6 Nghị định 37/2002/NĐ-CP ngày 18/3/2005 của Chính phủ. Ý kiến của người khởi kiện cho rằng không nhận được thông báo hoặc không biết về nội dung Nhà nước thu hồi đất là không có cơ sở, không được chấp nhận.
Về thời hiệu, thời hạn của hành vi hành chính: Quyết định số 5522/QĐ-XPHC ngày 13/12/2011 về việc xử phạt vi phạm hành chính và Quyết định số 663/QĐ-CCK ngày 05/4/2012 về việc áp dụng biện pháp cưỡng chế của Chủ tịch UBND huyện V là các quyết định đã có hiệu lực pháp luật, do đó việc tổ chức cưỡng chế vào ngày 24/4/2012 là trong thời hạn quy định tại Điều 9 Nghị định 37/NĐ-CP ngày 18/3/2005 của Chính phủ.
Về mối liên hệ giữa hành vi cưỡng chế hành chính với quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện:
Căn cứ Luật Đất đai năm 2003; Quyết định số 742/QĐ-TTg ngày 30/6/2004 của Thủ tướng Chính phủ; Quyết định số 2549/QĐ-UB và 2550/QĐ-UB ngày 21/10/2004 của UBND tỉnh H và các văn bản liên quan về việc thu hồi đất để sử dụng vào mục đích lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng. Do người sử dụng đất không tự giác chấp hành, Chủ tịch UBND huyện V đã ban hành Quyết định về việc xử phạt vi phạm hành chính và Quyết định về việc áp dụng biện pháp cưỡng chế là đúng các quy định của pháp luật về nội dung và trình tự thủ tục. Sau khi nhận được hoặc biết được các quyết định trên, người khởi kiện không có khiếu nại hoặc khởi kiện, do đó các quyết định của Chủ tịch UBND huyện V có hiệu lực thi hành.
Hành vi cưỡng chế hành chính để thu hồi đất vào mục đích lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng của Chủ tịch UBND huyện V là đúng các quy định tại Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1998 của Chính phủ, hành vi này được thực hiện sau khi đã tổ chức hội nghị họp dân, đối thoại để tuyên truyền, vận động, giải thích, thuyết phục các hộ dân ủng hộ dự án; phổ biến chính sách bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng cùng các khoản hỗ trợ của Chủ đầu tư nhằm đảm bảo lợi ích cho người có đất bị thu hồi, nhưng cá nhân, hộ gia đình người khởi kiện không chấp hành, không hợp tác. Do đó, yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện về việc tuyên hành vi cưỡng chế của Chủ tịch UBND huyện V trái pháp luật là không có căn cứ và không được chấp nhận.
Đối với UBND xã X, UBND huyện V đã thực hiện đúng các chức năng, nhiệm vụ của mình theo quy định của pháp luật về hoạt động quản lý hành chính; Công ty Cổ phần T5 là tổ chức được nhà nước giao đất theo đúng quy định nên không phải thực hiện nghĩa vụ nào khác theo yêu cầu khởi kiện.
Từ những phân tích, nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị X là đúng pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm bà X không xuất trình thêm được tài liệu, chứng cứ nào mới. Vì vậy, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội về việc bác kháng cáo của bà X, giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí hành chính phúc thẩm: Bà Phan Thị X sinh năm 1961, căn cứ Điều 2 Luật Người cao tuổi, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, Hội đồng xét xử miễn án phí cho bà X.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính;
1. Bác kháng cáo của bà Phan Thị X.
2. Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 42/2024/HC-ST ngày 08 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.
3. Miễn án phí hành chính phúc thẩm cho bà Phan Thị X.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSNDCC tại Hà Nội; - TAND tỉnh Hưng Yên; - Cục THADS tỉnh Hưng Yên; - Các đương sự (theo địa chỉ); - Lưu HSVA, PHCTP./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Hải Thanh |